Tháo Mũ Vì Nàng
Chương 7
Trong cục không ai biết ai cho gọi thái y. Cả cục đoán già đoán non suốt một mùa hè, rồi quên.
Hoá ra bên kia bức tường, cả một ty người biết. Biết đến mức có sổ ghi, có án phạt, có chữ ký. Chỉ là hai bên tường ấy chưa từng có ai đem chuyện sang kể cho ai.
Con bé cung nữ sắp chết đêm ấy là ta.
Người lính quỳ giữa nắng ba hôm sau đó, là hắn. Ta dúi nắm cơm cho hắn ngày thứ hai, vì thấy tội.
Ta không biết hắn quỳ vì ta. Hắn không biết nắm cơm ấy là của đứa hắn cứu.
Ta ngồi giữa bàn rượu ồn ào, nước mắt cứ thế mà xuống, lau không kịp. A Nhu hốt hoảng, lão Cát ngơ ngác, Quế thẩm vội xua cả bàn, có gì đâu, con bé nó mừng.
Không phải mừng, thẩm ơi. Là mười năm nay có một món nợ hai đầu, hai đứa cùng trả cho nhau, mà không đứa nào biết mình đang được trả.
20
Khuya, khách về hết, ta nắm một nắm cơm nếp mới, đi ra cổng trại.
Hắn nghe lính gọi, chạy ra, tưởng có chuyện. Ta dúi nắm cơm vào tay hắn, còn ấm.
"Chịu thêm hai ngày nữa," ta nói, "là hết chờ."
Hắn chưa kịp đáp, ta nói nốt câu thứ hai, cái câu ta tập cả buổi tối mà nói ra vẫn run.
"Còn nữa. Con bé cung nữ sốt sắp chết mà ngươi mở cổng cứu năm Cảnh Hoà thứ ba ấy... cũng là ta. Nắm cơm ấy không phải ta cho ngươi. Là ta trả ngươi. Ta với ngươi trả nhau mười năm rồi, Vệ Cẩn. Đừng ai nợ ai nữa."
Nói xong ta quay đi luôn, không dám nhìn mặt hắn.
Sau lưng, rất lâu, không có tiếng chân. Chắc hắn vẫn đứng đó, giữ nắm cơm bằng cả hai tay, như mười năm trước.
21
Sáng rằm, kiệu hoa đến trước hàng cơm.
Ta vén rèm cửa nhìn ra, khựng lại. Đúng chiếc kiệu ấy. Chiếc kiệu hoa đậu cạnh gốc hoè hôm mùng năm, cả đến phu kiệu cũng là hai người cũ.
Người phu kiệu già thấy ta thì cười rõ tươi.
"Cô nương, lần này mới phải việc."
Áo cưới ta mặc là ta tự cắt lấy, vải đỏ mua bằng hai lượng bạc cuối cùng trong tay nải. Mười năm quét sân, cuối cùng đọng lại trên người ta thành một màu đỏ.
A Nhu bưng chậu nước vào, đứng ngó, rồi buột miệng. "Tỷ tỷ, hai lượng còn lại tỷ để dành thì hơn."
"Để dành cho ai?" ta hỏi.
Nó nghĩ một lúc, không nghĩ ra, rồi cười phá lên.
Quế thẩm đứng sau lưng ta, vừa cài trâm cho ta vừa kể, giọng bình thường mà tay không bình thường.
"Hôm mùng năm, nó thuê kiệu từ sáng sớm. Tiệm kiệu hỏi đón dâu nhà nào, nó bảo chưa biết. Người ta hỏi thế thuê làm gì, nó bảo," bà dừng lại một chút, "nếu cô nương ấy không theo ta, thì kiệu này đưa cô nương ấy đi bất cứ đâu cô nương ấy muốn. Miễn không phải cửa quan môi."
Tay ta bấu lấy khung cửa.
Ba tháng trước hắn đã biết sẽ không có ai đến nhận ta. Ba tháng ấy hắn chuẩn bị được đúng hai thứ: một câu khai liều, và một chiếc kiệu.
Hoá ra chiếc kiệu ấy chưa từng là để đón ta về với hắn. Là để ta có một đường đi không phải cúi đầu, dù ta chọn đường nào.
"Già này sống sáu chục năm," Quế thẩm cài nốt cái trâm, "thấy khối đàn ông đem sính lễ đi hỏi vợ. Đem sẵn cả đường lui đến cho người ta, mới thấy một."
Ta hỏi bà, tiệm kiệu có lấy thêm tiền chuyến hôm mùng năm không.
"Lấy chứ. Hai mươi văn." Bà cười. "Nó trả rồi. Trả xong còn dặn tiệm giữ chỗ chiếc kiệu ấy đến rằm, đừng cho ai thuê. Đặt cọc thêm ba mươi văn nữa."
Vậy là ngay hôm mùng năm, lúc ta còn ngồi trong kiệu hỏi hắn muốn đổi cái gì, hắn đã đi đặt cọc trước cho một cái ngày mà chính hắn cũng không dám chắc.
Ta bước lên kiệu, khóc từ trong ngõ ra đến đầu phố, mà miệng thì cứ cười.
22
Lễ cưới bày ở hàng cơm, ba bàn tiệc, khách khứa toàn người ngõ.
Bên bàn nhà gái, đặt hai chiếc ghế trống. Ghế của cha ta, ghế của nương ta, những người mà đến hôm nay ta vẫn không biết đang ở góc trời nào, còn sống hay đã mất.
Ta mặc áo cưới, lạy hai chiếc ghế trống ba lạy. Lạy xong, ta đứng lên được, là nhờ có một bàn tay đưa ra đỡ rất vững.
Đang lúc ấy thì ngoài ngõ rầm rập tiếng chân.
Lão Cát dẫn cả đội cổng Tây kéo đến, quân phục chỉnh tề, xếp hàng đứng chật nửa cái ngõ. Lão vuốt râu, cất giọng.
"Nhà gái thiếu người, lính bù. Cô nương từng nuôi cơm người bị phạt của đội này, thì đội này đứng họ nhà gái, đưa dâu."
Hai chục người lính đồng thanh dạ một tiếng, rung cả mái ngói. Cả ngõ cười ầm. Người ngõ Thanh Hoè bảo nhau, sống ngần này tuổi mới thấy một đám cưới mà họ nhà gái mặc giáp trụ.
Quế thẩm ngồi ghế người lớn bên nhà trai, chấm mắt bằng vạt áo mới may. Bà goá mấy chục năm, hôm nay bỗng thành người lớn của cả hai họ. A Nhu bưng trà, chạy tới chạy lui, mặt đỏ như trái táo chín.
Người viết thuê trải hôn thư ra bàn, đọc to từng dòng cho hai họ nghe. Đọc đến đoạn sinh quán nhà gái thì khựng lại, nhìn ta.
Ta nói, cứ viết ngõ Thanh Hoè.
Người ta bảo nhà gái phải viết quê quán. Quế thẩm nói vọng ra từ trong bếp, thì viết ngõ Thanh Hoè, con bé này quê ở đây, nhà ở đây, người lớn ở đây, sai chỗ nào.
Người viết thuê cầm bút, viết. Cả ngõ không ai cãi lại được bà một câu.
Hắn ký tên, đến lượt ta điểm chỉ. Ngón tay ta đặt xuống giấy, đỏ chót một dấu.
Mười ngày trước, tên ta nằm cạnh mép quyển sổ quan môi. Mười ngày sau, tên ta nằm cạnh tên hắn.
Trưa hôm ấy, hắn ôm hôn thư lên ty, trình bổ vào sổ đúng kỳ khám. Nghe kể Tống đại nhân xem xong chỉ phê một chữ. Chuẩn.
23
Tối, hắn đưa ta xem một tờ giấy khác. Tờ xin phiên kỳ tới. Dòng đầu viết, xin thôi cổng Tây.
"Hết người để chờ rồi," hắn nói.
Ta gấp tờ giấy lại, đưa trả.
"Không phải hết. Người để chờ về nhà rồi."
24
Bữa cơm đầu tiên của nhà ta có bốn người. Quế thẩm ngồi trên, ta và phu quân ngồi hai bên, A Nhu ngồi cạnh ta, chân vẫn chưa chạm đất đã lo gắp thức ăn cho cả bàn.
Cạnh mép bàn, ta đặt thêm hai đôi bát đũa, trước hai chỗ trống.
"Nhà này chừa sẵn hai chỗ," ta nói. "Cha nương ta ngày nào tìm về, ngày ấy có cơm nóng."
Không ai nói gì. Quế thẩm gắp cho ta một miếng, A Nhu gắp cho ta một miếng, bát ta đầy có ngọn.
"Con bé này, ăn cho hết đi nhé," Quế thẩm nói. "Nhà này không ai giật bát của con đâu."
Câu ấy bà đã nói với ta một lần rồi, đêm đầu tiên, khi ta còn ngồi chưa hết nửa mông ghế. Mười ngày, ta nghe hai lần, mà lần này mới nghe ra hết.
Ta ngồi chạm hẳn lưng ghế, gắp tới món xa nhất, ăn chậm rãi như một người có nhà.
Ăn xong, ta xuống bếp, nắm một nắm cơm nếp, gói vào khăn sạch, đưa hắn.
"Phiên gác ngày mai. Từ nay phiên nào cũng có."
A Nhu thò đầu vào bếp. "Tỷ tỷ, thế phần muội..."
"Có." Ta chỉ cái nắm nhỏ hơn trên giá bát. "Ăn sáng rồi hẵng dọn hàng."
Phu quân ta cầm nắm cơm, cẩn thận như cầm một thứ dễ vỡ. Hắn lật nắm cơm trong tay, nhìn ba nếp xoáy trên mặt nắm, nhìn lâu đến nỗi ta phải giục.
"Nguội mất bây giờ."
"Ba nếp xoáy," hắn nói.
"Ba nếp xoáy thì làm sao?"
"Không làm sao. Mười năm ta nhìn cái này trong tay người khác." Hắn cầm nắm cơm lên ngang mặt. "Hôm nay mới được cầm cái nắm nàng nắm cho ta."
Ta quay đi lau tay vào tạp dề, lau mãi một chỗ.
Ngoài sân, trăng rằm đã lên khỏi mái ngói nhà bên. Cái sân này hắn quét một lần rồi, đêm hắn không chịu cầm bạc của ta. Từ nay thì đến lượt ta quét.
Rồi hắn nói một câu mà ta biết mình sẽ nhớ đến già.
"Mười năm trước nàng cho ta một canh giờ. Từ nay ta trả nàng bằng tất cả canh giờ còn lại."
Ngoại truyện
Là ta, Vệ Cẩn.
Mười năm đứng cổng Tây, ta thuộc lòng ba điều về nàng.
Một, tiếng bước chân nàng. Từ bậc đá đến gốc hoè ngoài cổng là mười bảy bước, nàng đi nhanh hơn cả đoàn nửa nhịp, vì nàng luôn là người xách nặng nhất. Cũng nhờ cái xách nặng nhất ấy mà ta có được ba chữ tên nàng.
Hai, nàng luôn đi sát mép bóng tường. Mùa hè nhường chỗ mát cho người đi cạnh, mùa đông nhường chỗ khuất gió. Nàng làm thế mười năm, chắc chính nàng cũng không biết.
Ba, mỗi rằm về, trong giỏ đồ của cả cục, thế nào cũng có một xâu bánh nếp nàng ôm riêng bằng hai tay. Sau này ta mới biết, bánh ấy nàng mua cho các tỷ cùng phòng, phần nàng chỉ là cái lá gói.
Mười năm ấy ta không dám nghĩ xa. Lính gác không được nghĩ xa.
Ta chỉ cho phép mình nghĩ đến kỳ gần nhất, mùng một tới, rằm tới. Nàng còn đi qua cổng, nghĩa là nàng còn sống yên trong đó. Thế là đủ dùng cho một tháng.
Có một mùng một tháng chạp trời đổ mưa đá. Ta xin đội trưởng cho cả đoàn trú dưới vọng gác, xin bằng đúng một câu: đá to bằng đầu ngón tay, đội trưởng ạ.
Cả đoàn đứng đó nửa canh giờ. Ta đứng ngoài mưa cho đủ chỗ.
Từ đầu đến cuối ta không nói với nàng một chữ, nàng cũng không ngẩng lên lấy một lần. Đó là lần duy nhất trong mười năm ta đứng gần nàng đến thế, và cũng là lần ta chắc nhất rằng mình đã làm đúng: nàng không phải cảm ơn ai, không phải mang nợ ai, không phải mang vạ vì ai.
Hôm mùng năm, ta thuê kiệu từ lúc trời chưa sáng hẳn. Tiệm kiệu hỏi đón dâu nhà nào. Ta nói chưa biết, có khi không phải đón dâu.
Người ta nhìn ta như nhìn kẻ dở người. Ta nghĩ, mười năm cả ty nhìn ta như thế rồi, thêm một người cũng chẳng sao.
Năm năm sau, con gái ta lên bốn, một hôm ra cổng đứng cạnh ta, ngửa cổ hỏi.
"Cha ơi, cha đứng gác cổng nhà mình làm gì? Nhà mình có ai trốn đâu."
Ta bế nó lên.
"Cha không gác. Cha chờ nương con về ăn cơm."
Trong bếp có tiếng nàng gọi, cơm chín rồi. Con gái ta co chân chạy trước.
Ta đứng thêm một nhịp ngoài cổng. Nắng chiều đổ trên ngõ Thanh Hoè, vàng y như nắng cổng Tây năm nào, chỉ khác là đứng trong nắng này thì không ai gọi ta là thằng ngu nữa. Rồi ta đi vào.
Chờ mà biết chắc người ấy sẽ về, hoá ra là việc sung sướng nhất đời.
——
Có những việc tốt bạn làm xong rồi quên ngay, vì với bạn nó nhỏ quá.
Nhưng biết đâu với một ai đó, nó vừa đủ để người ta đi qua được mười năm khó nhất đời mình. Mong bạn cứ làm tiếp những việc nhỏ như thế. Và mong một ngày, giữa lúc bạn trắng tay nhất, có người tìm đến trước cửa, chỉ để nhớ lại hộ bạn một điều tốt bạn đã quên.
——