Nàng Về Đến Cổng, Nhà Chồng Đang Phát Tang Nàng
CHƯƠNG 1
Ta đi buôn trà ba tháng, về đến cổng nhà thì thấy cổng treo vải trắng.
Giữa cổng là tấm minh tinh chữ đen, đề tên người mất. Chúc thị, huý Dao.
Là tên ta.
Người khác gặp cảnh này chắc la lên một tiếng, xông vào cho cả họ ngã ngửa. Ta thì kéo nón che nửa mặt, lùi vào gốc hoè, ngồi xuống bốc một nhúm trà vụn nhai cho đỡ đói.
Chết thì chết. Nhưng phải để ta nghe cho hết, ai khóc thật.
1
Ta gánh nửa bao trà vụn về đến đầu ngõ thì trời vừa xế.
Ba tháng đi chuyến, chân tính bước nhanh, bụng tính bữa cơm nóng.
Rồi ta thấy cổng nhà mình treo vải trắng.
Hai cây phướn dựng hai bên cổng, giấy tiền bay lả tả ra tận rãnh nước. Giữa cổng là tấm minh tinh chữ đen, đề tên người mất.
Chúc thị, huý Dao.
Ta đứng đọc tên mình hết ba hơi thở, đầu ong ong.
Cái tên ấy ta viết mòn tay trên sổ hàng. Giờ nó nằm trên vải trắng, nét mực còn mới.
Trong sân có tiếng khóc, lớp trong lớp ngoài, bài bản lắm.
Hai bà đi chợ ngang qua cổng, thấp giọng với nhau.
"Con dâu nhà Nghiêm đấy. Đi buôn trà, xe rơi vực."
"Trẻ thế. Hiệu trà đang lúc ăn nên làm ra."
"Quàn bảy ngày cơ à?"
"Nhà có của mà. Nay ngày thứ ba rồi. Nghe đâu không vớt được người, trong quan tài chỉ quàn áo với trâm."
Không vớt được người. Bốn chữ ấy nghe mà sống lưng ta lạnh toát.
Trong cỗ quan tài kia chỉ có áo và cây trâm cưới của ta. Còn ta đứng đây, nguyên vẹn, đói meo.
Ta kéo nón trúc sụp nửa mặt, lùi vào gốc hoè đầu ngõ, hạ gánh, ngồi thụp xuống.
Người khác gặp cảnh này chắc la lên một tiếng, xông vào cho cả họ ngã ngửa. Ta thì không.
Vì ta vừa nghĩ ra một chuyện. Xe của ta rơi vực, không phải tự rơi.
Người ta chết thì mất mạng. Ta chết, còn mất thêm phần hùn hiệu trà Hoà Xương.
Mạng thì ta giữ được rồi. Phần hùn, phải xem đứa nào đang nhắm.
Mà la lên lúc này, khác nào nhắn cho con dao kia một câu. Chém trượt rồi, về mài lại đi.
Ta ngồi gốc hoè, nghe cả trấn khóc mình, thản nhiên bốc một nhúm trà vụn bỏ miệng nhai cho đỡ đói.
Trà đắng. Đắng cũng phải nuốt.
Chết thì chết. Nhưng phải để ta nghe cho hết, ai khóc thật.
2
Chuyện phải kể từ ba hôm trước.
Nhà ta buôn trà có một cái lệ, cha ta truyền lại. Hàng đi trước, bạc đi sau một trạm.
Trà chất lên xe đi trước, người cầm bạc lùi lại một trạm, hôm sau mới đi. Đường núi lắm kẻ ngó, hàng mất còn gây lại được, bạc mất là trắng tay.
Lệ ấy cha dặn giấu kín, nên cả đoàn buôn ai cũng tưởng ta ngồi kèm thùng xe như mọi chuyến.
Chuyến này ta ở lại trạm Bạch Câu thu nốt món nợ trà cũ, xe đi trước, qua đèo Thạch Hào.
Chiều hôm ấy phu trạm chạy vào, mặt trắng bệch.
"Bẩm, xe nhà Nghiêm rơi vực rồi. Gã Tần đánh xe cũng không thấy đâu."
Ta bỏ cả bữa, đi suốt đêm lên miệng vực, đứng trên mỏm đá nhìn xuống chỉ thấy sương trắng.
Người trong đoàn đã vớt được cái hòm hành lý vỡ mắc lưng chừng vách đá, trong có áo và cây trâm cưới của ta. Họ phóng ngựa suốt đêm về trấn báo tang.
Còn ta lần theo vệt bánh trên mặt đèo, nhặt được nửa cái chốt trục văng lại bên vệt lăn.
Chốt trục gãy, mà vết gãy ngọt lịm. Gỗ mục gãy thì xơ, gỗ bị đục sẵn gãy mới ngọt thế.
Con nhà buôn xe, nhìn một cái là biết.
Ta bọc nửa cái chốt vào khăn, giắt sâu trong tay nải, ngồi giữa đèo vắng mà không khóc nổi một tiếng.
Có kẻ muốn ta nằm dưới vực ấy. Kẻ ấy trả tiền cho gã Tần, và gã Tần đã biến mất.
Nhà buôn còn một cái lệ nữa, lệ nút câm. Người đi xa, mỗi trạm gửi về nhà một nút thắt dây kèm vài dòng chữ, là bình an.
Còn nút gửi về mà trơn, không kèm một chữ, nghĩa là người gửi còn sống, đang trốn. Chớ tìm, chớ hỏi, chớ nói với ai.
Sáng hôm sau ta ra trạm, gửi về nhà một nút thắt trơn. Ba vòng, lệch trái, kiểu thắt chỉ nhà ta có.
Rồi ta bỏ đường cái, cắt đường vòng, đi bộ hai ngày rưỡi về trấn.
Về đến nơi thì thấy mình đã nằm trong quan tài được ba ngày.
3
Nhá nhem tối, nhà rộn khách viếng, ta lách cửa sau vào vườn.
Viên sỏi chèn chân cửa lăn sang một bên. Ta khép cửa, đẩy nó về chỗ cũ, chẳng biết có đúng chỗ cũ không.
Gian kho củi sát vách gian thờ còn chừa một khe hở. Ta nép vào đó, thở khẽ như trộm.
Trộm trong nhà mình.
4
Gian thờ nhà ta kê giữa. Cỗ quan tài đặt trên hai ghế dài, đèn nến sáng trưng, khói hương luồn cả sang kho củi, cay xè mắt.
Bên kia vách, lượt viếng tối đang rộn.
Tiếng khóc dâng lên từng đợt, bài bản như hát. Ai điếu đọc tròn vành rõ chữ, kể ta hiền thục đảm đang, kể hiệu trà một tay ta gây dựng.
Nghe người ta kể về mình lúc mình đã chết, lạ lắm. Nửa muốn cười, nửa muốn chui ra nhận họ hàng.
Khóc to nhất là Vương thẩm. Thẩm mẫu ruột của ta, người ta quý nhất họ.
Năm thẩm túng, ta cho vay ba lượng không lấy lãi, Tết nào trà ngon nhất ta cũng gói biếu thẩm trước.
Thẩm vỗ tay vào nắp quan tài, gào Dao nhi ơi Dao nhi ơi, khản cả giọng. Ta nghe mà cay cay sống mũi.
Rồi thẩm dứt tiếng khóc, quay sang hỏi, giọng ráo hoảnh.
"Cái tủ gỗ hương của nó, rồi tính sao? Đồ đàn bà con gái, nhà này ai dùng. Để lâu mối mọt, phí của."
Sống mũi ta hết cay ngay tại chỗ.
Có người đáp gì đó nho nhỏ. Thẩm lại lên tiếng, chắc nịch.
"Cái tủ ấy hồi nó mua ta đi xem cùng. Cả nhà này ta rành giá nhất."
À. Rành giá nhất.
Ta ngồi trong kho củi, rút cây kim gài tóc, vạch lên cột một vạch. Sổ nợ mở từ đây.
Sau thẩm là mấy bà trong họ, khóc dăm tiếng lấy lệ rồi ngồi cắn hạt dưa bàn chuyện khác.
"Lão gia còn trẻ măng. Mãn tang rồi cũng phải tính đường tục huyền cho sớm chứ."
"Hiệu trà dạo này lãi khá đấy. Tiếc, người làm ra lãi lại ngắn số."
Có bà chép miệng một tiếng.
"Số nha đầu ấy thế mà sướng.