Nàng Về Đến Cổng, Nhà Chồng Đang Phát Tang Nàng
CHƯƠNG 2
Chết đi còn được nằm cỗ quan tài gỗ tốt."
Ta suýt bật cười thành tiếng. Sướng thế, mời bà vào nằm thử.
5
Khuya, khách về hết, gian thờ còn lại một người.
Phu quân ta ngồi trên chiếc ghế thấp cạnh quan tài, lưng thẳng, áo tang trắng. Ba tháng không gặp, hắn gầy đi trông thấy, quai hàm nhô hẳn ra.
Hắn không khóc, chỉ ngồi nhìn bát hương, thi thoảng cắm thêm một nén.
Ta nép sau khe vách, nhìn hắn thật lâu. Lòng rối như tơ.
Phần hùn hiệu trà, giấy trắng mực đen chỉ có hai cái tên. Ta, và nhị bá Nghiêm Khoan, bá phụ của hắn.
Giấy hùn có một dòng, người nào mất thì phần hùn về người hùn còn lại. Nhưng phải tang lễ trọn vẹn, sổ họ xoá tên, mới được sang giấy.
Ta chết, phần hùn về nhị bá, không về hắn. Trên giấy, hắn không được gì.
Nhưng lòng người thì không viết trên giấy.
Lão Quý bưng trà vào, đứng một lúc, đánh bạo thưa nhỏ.
"Lão gia, hay để già này thay một canh nhé. Ngài ba đêm chưa chợp mắt rồi."
Hắn lắc đầu.
"Bên nhị bá lại giục, bảo lễ nào ra lễ nấy, kẻo họ hàng chê trách."
"Cứ làm đủ lễ."
Hắn nói năm chữ, rồi thôi. Lão Quý thở dài, lui ra.
Cứ làm đủ lễ. Là hiếu nghĩa, hay là sốt ruột muốn chôn ta cho xong?
Ta nhìn cái lưng thẳng ấy, không đọc ra được chữ nào.
Khuya nữa, hắn tựa cột thiếp đi một chốc. Ta mò về buồng mình.
Cửa buồng khoá. Ban chiều A Tố tưới hoa ngoài hiên có nói vọng với ai đó.
"Dạ, lão gia dặn khoá buồng, không cho ai vào dọn đâu."
Chìa giấu dưới chân chậu hoa vẫn nằm nguyên chỗ cũ.
Ta mở cửa, không dám thắp đèn, nằm lên giường mình, đắp cái chăn của mình.
Con ma nào trên đời được nằm giường êm thế này. Ta nhắm mắt, tự dặn mình.
Ngủ đi. Mai còn phải nghe tiếp, ai khóc thật.
6
Sáng hôm sau ta tỉnh dậy, suýt kêu thành tiếng.
Trên cái bàn con cạnh giường có một chậu nước mới, khăn mặt gấp vuông vắn, cạnh đó một mâm cơm đậy lồng kín còn ấm tay.
Và một ấm trà gừng.
Cả nhà này chỉ mình ta uống trà gừng. Tay ta quanh năm lạnh, đông cũng như hè, hắn hay chê ta cầm bát mà như cầm nước đá.
Có người biết ta đang ở đây. Không những biết, còn biết đúng là ta.
Hồi mới cưới, hắn cầm tay ta, nhăn mặt.
"Tay gì mà như hai cục nước đá. Cầm bát cơm, cơm cũng nguội theo."
Nói thế, nhưng từ đông năm ấy, trong bếp nhà này chưa bao giờ hết gừng.
Sống lưng ta lạnh từng đốt, ta ngồi im trên giường nghe ngóng cả khắc.
Ngoài hiên chỉ có tiếng A Tố lệt xệt tưới hoa, trong nhà tiếng mõ tụng kinh đều đều.
Không ai rình, không ai gọi, chỉ có mâm cơm nằm đó, bốc hơi mỏng qua khe lồng.
Ta nhìn mâm cơm, tính tới tính lui.
Là bạn, hay là thù? Kẻ muốn ta chết mà biết ta còn sống, việc gì phải hâm cơm nóng. Dao rẻ hơn gạo.
Còn nếu là bạn, sao không ra mặt, chỉ lẳng lặng đặt cơm như cúng?
Nghĩ không ra. Nhưng bụng thì ra rồi, nó sôi một tràng dài.
Ta mở lồng. Cơm trắng, cá kho khô, đĩa rau luộc chấm tương, toàn món ta thích.
Người sắp giết ta không ai kho cá đúng vị thế này. Ta bưng bát, ăn sạch.
Ăn xong, ta rót trà gừng, uống một hơi. Ấm từ cổ xuống bụng.
Rồi ta xếp bát đũa lại ngay ngắn, đậy lồng như cũ, coi như thưa chuyện với người kia một câu.
Ta nhận. Nhưng ta chưa tin.
Nhà buôn có câu, hàng nhận rồi vẫn phải cân lại. Người cũng thế.
7
Ta lại ra kho củi từ sớm, kịp lượt viếng đầu ngày.
Người đến sớm nhất là nhị bá Nghiêm Khoan.
Lão mặc áo xám, chống gậy, đi quanh cỗ quan tài một vòng, gõ mấy ngón tay lên nắp như gõ cửa nhà người quen.
"Cháu dâu à. Ta đến sớm, thắp cho cháu dâu một nén hương."
Lão thắp hương, vái ba vái, đâu ra đấy, rồi quay ra hỏi han đủ thứ, hỏi kỹ như chủ nhà, kỹ hơn cả chủ nhà.
"Cơm nước lo tới đâu rồi? Phường kèn thuê mấy ngày? Tiền phúng ai đang giữ sổ đấy?"
Rồi lão gọi phu quân ta lại, hạ giọng.
"Ngoài vực có tin gì chưa? Người... chắc là chưa tìm được chứ?"
Ta nghe mà khựng lại, tay bám vào cột kho.
Người ta hỏi tin người chết đuối, chết vực, giọng phải nong nóng một chút mới phải đạo.
Người ta hỏi tin, phải hỏi tìm được chưa. Còn lão hỏi, chắc là chưa tìm được chứ.
Ba chữ chắc-là-chưa, nghe như sợ tìm được.
"Chưa có tin."
Phu quân ta đáp gọn. Lão gật gù, vỗ vai hắn, nói mấy câu nghĩa tử nghĩa tận, người đi rồi người ở phải vững.
Rồi lão dặn với, giọng rất chu đáo.
"Đường lên vực trơn lắm. Đừng cho người nhà lên nữa, ngã thêm ai thì khổ."
Chu đáo quá. Chu đáo đến mức không muốn ai bén mảng lên vực.
Lão vừa lui ra sân thì bên ấy có tiếng quát. Là Vương thẩm.
"A Tố kia, chủ ngươi nằm đấy mà mắt ngươi ráo hoảnh thế à? Đồ lòng dạ gỗ đá, nuôi tốn cơm."
Tiếng A Tố lí nhí.
"Phu nhân... phu nhân chưa..."
Nó nói được hai chữ thì nuốt lại, cúi đầu chịu mắng.
Rồi nó bưng chậu nước, đi tưới chậu hoa của ta ngoài hiên. Tưới xong đứng nhìn cái cây một lúc, mới đi.
Ta nhìn theo cái bóng gầy nhẳng ấy, tự dưng thấy ấm hơn cả ấm trà gừng ban sáng.
8
Ngoài rào, hai bà hàng xóm nói chuyện với nhau, tiếng lọt qua kẽ lá.
"Đám to nhỉ. Kèn trống ba ngày chưa ngớt."
"To chứ. Nghe bảo quàn đủ bảy ngày mới đóng đinh. Khổ, người thì chả vớt được."
"Rõ là hồng nhan bạc mệnh. Rồi xem, hiệu trà ấy lại đổi chủ cho coi."
9
Gần trưa, Vương thẩm quay lại, lần này dắt theo một người lạ, tay lăm lăm cái thước gỗ.
Hai người đi thẳng vào gian chứa đồ ngay sát gian thờ, ta men theo vách, nghe rõ từng câu.
Cửa gian chứa đồ mở, mùi long não quen thuộc bay ra, mùi ta ướp giữ đồ lụa.
Thẩm quen cửa quen nẻo, dắt khách đi giữa đồ đạc của ta như đi giữa hàng nhà thẩm.
"Đây, cái tủ gỗ hương đây. Chú xem đi, gỗ này giờ kiếm đâu ra."
Tiếng thước gõ lên thành tủ của ta, cạch cạch.
"Vân gỗ thường thôi. Góc lại sứt mất một miếng.