Phu Nhân Đo Áo Mười Mỹ Nhân
CHƯƠNG 6
Đêm cuối hết sạch chỉ xám, quản xưởng không cho dừng tay, ta đành lấy cuộn chỉ đỏ, thứ chỉ để thêu hỉ phục, vá tạm góc vai một chiếc.
Vá xong còn tự nhủ: ai mặc phải chiếc này, thể nào cũng mắng con thợ vụng.
"Trận Hắc Thuỷ, tên bắn vào vai trái ta." Phu quân ta nói, chậm rãi, như đọc một bản công văn đã thuộc lòng. "Xuyên giáp ngoài, mắc lại ở lớp lót, đúng chỗ miếng vá hai lớp này. Quân y bảo nhờ mũi vá dày, đỡ được một tấc. Một tấc ấy là cái mạng ta."
Ta đứng im. Manh giáp trong tay mỗi lúc một nặng.
"Về doanh, ta cầm nó đi hỏi. Hỏi ra xưởng, hỏi ra đợt sửa, hỏi ra cái đêm hết chỉ xám. Quản xưởng nói đêm ấy chỉ có một con bé thợ dám lấy chỉ đỏ vá đồ quân. Ông ấy giở sổ công ra, chỉ vào một dòng trừ nửa tháng, ghi tên con bé họ Cố."
Ta nhớ ra rồi. Nửa tháng công ấy, ta tiếc đến mất ngủ hai đêm liền.
Hoá ra nửa tháng công ấy không mất đi đâu. Nó đi một vòng tám năm, đổi thành cả một đời người, quay về đứng ngay trước mặt ta.
"Hai năm sau ta lên đội trưởng, đủ tư cách đi hỏi vợ."
Ta ngẩng lên.
"Nên năm ấy không phải mai mối."
"Không phải." Hắn nhìn ta. "Ta đến thẳng xưởng, xin cưới đích danh con bé họ Cố. Tám năm nay nàng vẫn tưởng người ta gả đại nàng cho một gã nhà binh. Là ta đi tìm nàng. Tìm được rồi, thì không bao giờ có chuyện nàng phải dọn đi đâu hết."
"Sao tám năm không nói?"
Hắn cụp mắt xuống cái hộp.
"Nói ra thì thành cái ơn. Ngày ấy nàng gả cho ta vì ba bữa cơm với một mái nhà, nàng nói thẳng như thế, ta nghe cũng thẳng như thế. Đặt cái ơn lên bàn thì bữa cơm ăn không ngon nữa." Hắn ngừng một nhịp. "Ta định giữ đến lúc nào nàng không cần ta nữa thì mới lấy ra. Không ngờ phải lấy ra sớm thế này."
Đừng dọn đồ.
Ba chữ hắn nói hôm thánh chỉ đến, tới hôm nay mới nổ ra hết nghĩa.
Ta cúi xuống manh giáp. Chỗ chỉ đỏ đã bạc thành hồng nhạt. Nước mắt rơi xuống đúng miếng vá, thấm mất hút vào giữa hai lớp vải.
Vá rồi. Hắn nói không sai chữ nào.
Cái áo này vá lâu lắm rồi — vá từ trước khi hai người biết mặt nhau.
22
Mấy hôm sau, bữa tối chỉ có hai người.
Ta xới cơm cho hắn, hỏi cái câu găm trong bụng từ hôm đại triều:
"Phó ấn tiên phong... có tiếc không?"
Cái ấn ấy là tám năm trận mạc. Người ngoài bảo hắn dại, đem binh quyền đổi lấy một đạo chỉ về chuyện buồng the. Kẻ độc miệng hơn thì nói phủ Trấn Bắc từ nay hết đường lên.
Phu quân ta gắp thức ăn bỏ vào bát ta, đáp đúng một chữ:
"Đủ."
"Đủ là sao?"
Hắn đặt đũa xuống, nghĩ một lúc. Nhà võ tìm chữ bao giờ cũng lâu hơn tìm đường trong núi.
"Ăn ngày ba bữa là no. Bữa thứ tư là bội thực. Người cũng vậy." Hắn nói. "Binh quyền thêm nữa, mỹ nhân thêm nữa, với ta đều là bữa thứ tư. Còn nàng là ba bữa. Thiếu là đói."
Ta cúi xuống ăn cơm, và liền ba miếng, không dám ngẩng lên. Cơm hôm ấy hơi nhạt, chắc bà bếp mải vui quên nêm, thế mà ta thấy ngon lạ lùng.
Ăn xong, hắn không cho dọn mâm vội. Vào thư phòng lấy ra cái thước gỗ của ta.
Hôm quỳ nghe chỉ ta buông nó xuống bậc thềm rồi quên khuấy. Hoá ra hắn nhặt về, để bên án từ bấy.
Hắn đặt cái thước vào tay ta, rồi đứng thẳng trước mặt ta, giang hai tay ra.
"Làm gì đấy?"
"Nàng đo cả phủ rồi. Mười người, mười cái áo, người dưng cũng được nàng đo." Hắn nói, mặt nghiêm như đang điểm binh. "Giờ đo ta. Ngày trước cưới chạy theo quân lệnh, nàng mặc áo mượn, ta mặc chiến bào. Lần này may áo đại hôn cho tử tế. Cưới lại."
Ta cầm cái thước, đứng lặng mất một lúc. Rồi bật cười. Cười mà sống mũi cay xè.
"Đứng yên. Nhúc nhích là ta đo sai bây giờ."
Thước chạm vai hắn. Vai trái, chỗ vết sẹo cũ nằm dưới lớp áo, ta đo kỹ hơn một chút, dặn bụng chỗ này phải may dày thêm một lớp.
Nghề của ta xưa nay vẫn thế.
Chỗ nào từng rách, thì vá cho dày.
Ngoại truyện
Lục Trạm không biết kể chuyện. Cả đời hắn chỉ thuộc lòng ba điều về vợ mình, thuộc như thuộc địa đồ.
Điều thứ nhất: tiếng kéo của nàng khác mọi thợ trong xưởng. Người khác cắt vải nghe sột soạt, nàng cắt nghe gọn một đường, như đao sắc rạch mặt nước.
Năm xưa hắn cầm manh giáp đến xưởng quân doanh ba lần, ba lần chưa được thấy mặt. Đến lần thứ ba, quản xưởng hất hàm về phía cái vách gỗ có tiếng kéo vọng ra, bảo con bé họ Cố ngồi trong đó. Từ bấy, đi đâu nghe tiếng kéo gọn một đường như thế, hắn cũng ngoái lại.
Điều thứ hai: nàng cắn chỉ thì nghiêng đầu sang bên trái.
Tám năm, hắn ngồi đọc công văn buổi tối, cứ canh đúng lúc nàng nghiêng đầu là liếc sang. Tám năm nàng chưa bắt gặp lần nào. Hắn đánh trận thắng nhiều, nhưng thắng kín nhất là trận này.
Điều thứ ba: nàng lo lắng thì đo một chỗ ba lần.
Đêm ở trong cung chờ sáng, hắn ngồi ngoài hành lang điện, nhắm mắt lại là thấy nàng đang đo vạt áo, đo rồi lại đo, ba lần, rồi bốn lần. Hắn ngồi như thế đến canh năm, tự nhủ: phó ấn giao đi thì thôi, từ nay khỏi phải để nàng đo thêm lần nào nữa.
Hôm sau có người hỏi hắn: đổi cả phó ấn lấy một đạo chỉ, tướng quân không sợ thiệt sao.
Hắn nghĩ nửa ngày mới ra câu trả lời, mà nghĩ ra rồi cũng không nói với ai. Người ta cầm ấn để giữ thành. Hắn giao ấn, cũng là để giữ, giữ cái thành nhỏ có một người thắp đèn chờ cơm.
Nhiều năm sau, con gái hắn lục tủ, moi ra cái hộp gỗ, mở nắp thấy manh giáp cũ sờn trơ chỉ. Con bé giơ lên, nhăn mũi hỏi:
"Cha, nhà mình bao nhiêu là lụa, sao cha cứ cất cái áo rách này?"
Hắn bế con lên, đáp:
"Áo rách này là thứ lành lặn nhất nhà ta."
Con bé không hiểu, tụt xuống chạy đi hỏi nương. Nương nó đang ngồi khâu bên hiên, nghe xong chỉ cười, nghiêng đầu sang bên trái, cắn đứt một sợi chỉ đỏ.
—
Nếu bạn từng nhịn cho xong, rồi tự nhủ thế là biết đủ — mong bạn một lần dám hỏi mình thật sự cần gì. Nhịn không phải là đủ. Biết đủ là biết rõ thứ mình cần, rồi giữ nó bằng cả hai tay.
—