Sáu Cô Dâu Trước Đều Trốn Trong Đêm Tân Hôn
CHƯƠNG 1
Trấn Tang Du có một cái lệ không ai viết ra: nhà nào bị xiết nợ đến đường cùng, cứ dắt con gái đến lò mổ nhà họ Sầm.
Sáu nhà đã dắt đến. Sáu cô dâu đã gả vào. Và cả sáu người đều trốn mất, ngay trong đêm tân hôn.
Ta là người thứ bảy. Đêm tân hôn, chủ nhà đặt lên bàn một túi bạc nặng trịch, hất cằm về phía sau bếp.
"Cửa không khoá."
1
Anh cả ta đếm bạc ngay trên phản thịt nhà lò mổ.
Ba mươi lượng xếp thành sáu chồng. Tay gã run, không phải vì thương em gái. Vì sợ đếm thiếu.
"Con bé biết nhuộm vải, biết nấu cơm, khoẻ mạnh sạch sẽ," gã rao, y như rao một con heo giống. "Ba mươi lượng, xoá nợ, hai bên xong chuyện."
Người chợ đứng vòng ngoài xem, chẳng ai lạ. Trấn Tang Du có một cái lệ không ai viết ra: nhà nào bị xiết nợ đến đường cùng, cứ dắt con gái đến lò mổ nhà họ Sầm.
Sáu nhà đã dắt đến. Sáu cô dâu đã gả vào.
Và cả sáu người đều trốn mất, ngay trong đêm tân hôn.
Người ta đồn đủ thứ. Đồn hắn dữ, một phiên mổ trăm con heo không đổi sắc mặt.
Đồn nửa đêm nhà ấy có tiếng mài dao. Đồn sau nhà có sáu cái gò đất, gò nào cỏ cũng không buồn mọc.
Hắn ngồi ở bậc cửa, nghe gã kia rao bán em gái ruột, mặt không đổi. Chỉ hỏi đúng một câu: "Hỏi nó đã. Nó có chịu hay không?"
Gã quay sang ta. Cả chợ quay sang ta.
Ta giơ hai bàn tay lên. Tay ta xanh màu chàm, nhuộm vải mười năm, rửa kiểu gì cũng không sạch.
Con gái trấn này mà tay xanh thế, người ta chê. Có bà đứng vòng ngoài nói vống lên: "Tay như nhúng mực thế kia, cho không cũng chẳng ai dám rước!"
Giờ thì có người rước rồi đấy. Rước bằng ba mươi lượng bạc, trừ thẳng vào món nợ bài bạc của gã.
Trong đầu ta tính rất nhanh. Trốn về, mai gã lại bán ta lần nữa, giá lần sau chắc chắn rẻ hơn lần này. Ở lại, thì lời đồn nào cũng phải công nhận một điều: cơm nhà lò mổ, bữa nào cũng có thịt.
"Chịu," ta nói.
Cả chợ ồ lên. Ông lão mài dao đầu chợ ngừng tay, nhìn ta như nhìn người sắp gieo mình xuống sông.
Từ hôm ấy, ta thôi gọi người đếm bạc kia là anh cả. Trong bụng ta, gã chỉ còn là gã.
2
Không kiệu, không pháo. Chạng vạng, ta ôm tay nải tự đi qua cổng lò mổ.
Trên bàn đã dọn sẵn cơm. Một đĩa thịt luộc thái dày, một bát canh, hai đôi đũa.
Hắn ngồi xuống, ăn trước, không mời. Ta cũng ngồi xuống, ăn. Thịt nhà lò mổ quả nhiên không tệ.
Ăn xong, hắn vào buồng trong, mang ra một cái túi vải đặt lên bàn. Túi nặng, chạm mặt gỗ đánh cạch một tiếng.
Rồi hất cằm về phía sau bếp.
"Cửa không khoá."
Ta mở túi ra đếm. Mười lượng bạc trắng.
Ta chợt hiểu vì sao sáu người trước trốn được êm ru như thế. Không ai đuổi theo, không ai đòi sính lễ, không một nhà nào bị làm khó.
"Sáu người trước cũng cầm chừng này à?" ta hỏi.
Hắn không đáp. Coi như gật.
"Vậy ta ở lại," ta nói, đẩy cái túi về phía hắn. "Ở một năm mười lượng. Thiếu thì ghi sổ."
Người đàn ông tiếng dữ nhất trấn khựng lại. Sáu lần cưới vợ mặt không đổi, mà lần này nhìn ta lâu đến thế.
Đêm ấy hắn ngủ ngoài chái, nhường buồng cho ta. Ta ngồi trên giường, hai tay vò vạt áo, cái tay xanh chàm cứ hiện lên trong bóng tối.
Cửa sau không khoá thật. Gió lùa qua, kêu kẽo kẹt suốt canh ba.
Ta mở tủ tìm chăn. Trong góc tủ có một tấm khăn chàm cũ, gấp vuông vắn, để riêng một chỗ như thể sợ lẫn với đồ khác. Màu chàm đã bạc, mà nếp gấp thì còn sắc.
Nhà đàn ông thô kệch, sao lại giữ một tấm khăn đàn bà kỹ đến vậy. Ta nghĩ bâng quơ một lúc rồi ngủ mất.
Sáng ra, ta dậy sớm nhóm bếp thổi cơm. Hắn vác nửa con heo từ lò ra sân, đi ngang cửa bếp thì đứng sững lại.
Đứng lâu đến mức nửa con heo trên vai trĩu xuống mà không hay.
"Ăn cơm rồi hẵng mổ tiếp," ta nói.
Hắn ừ một tiếng rất khẽ, như sợ nói to thì cảnh trước mắt tan mất.
3
Đầu chợ, ông lão mài dao gạ A Toại, thằng nhỏ học việc nhà lò mổ, đặt kèo.
"Lão cược ba văn, cô dâu này trụ không quá ba ngày." A Toại móc túi, móc mãi được hai văn: "Con cược phu nhân trụ hết tháng. Cơm phu nhân nấu, dại gì mà trốn."
4
Ngày thứ hai, ta dọn nhà.
Nhà lò mổ rộng mà trống. Đồ đạc chẳng có gì, chỉ dao là nhiều, treo một hàng trên vách, mài sáng đến soi được mặt người.
Dưới đáy rương quần áo có một cuốn sổ mỏng, gáy khâu chỉ gai. Ta mở ra. Sáu dòng chữ, nét vụng mà nắn nót, như người ít học cố viết cho tử tế.
Mỗi dòng một cái tên đàn bà, kèm một con số.
A Duệ, mười hai lượng. Thải Cô, chín lượng. A Tịnh, mười lượng.
Ba cái tên nữa, con số cái nào cũng khác cái nào, chẳng theo một lệ nào cả.
Trang giấy chỗ dòng thứ ba nhàu hơn hẳn, như bị lần giở nhiều lần. Cuối dòng có một vệt ố tròn, nhỏ bằng đầu đũa. Ta nhìn vệt ố ấy rất lâu, không dám đoán nó là giọt gì.
Tim ta chùng xuống một nhịp. Thì ra lời đồn còn thiếu một khúc: hắn không những cưới, mà còn ghi sổ từng người. Ghi sổ để làm gì, nếu không phải để một ngày đi đòi?
Ta cầm cuốn sổ ra sân sau định hỏi cho ra lẽ, thì thấy sáu cái gò đất.
Sáu gò nằm thành hàng sát chân tường, đắp thấp, cỏ lơ thơ. Đúng như lời đồn ngoài chợ. Sống lưng ta lạnh toát, cuốn sổ trong tay bỗng nặng như đá.
Sáu cô dâu. Sáu cái tên trong sổ. Sáu cái gò sau nhà.
Hắn từ lò bước ra, thấy ta đứng đó, thấy cả cuốn sổ trong tay ta. Không giật lại, cũng không giải thích. Chỉ cầm lấy cuốn sổ, phủi bụi, cất vào chỗ cũ.
Đêm ấy ta nằm quay mặt vào vách, dao trên tường sáng lấp loá. Cửa sau vẫn không khoá.
Nhưng ta đã trót nói ở lại một năm mười lượng. Người nhuộm vải, ra giá rồi thì không bỏ mối.
Với lại, nếu người ấy thật sự muốn ta nằm dưới gò thứ bảy, thì khoá hay không khoá, có khác gì nhau.