Sáu Cô Dâu Trước Đều Trốn Trong Đêm Tân Hôn

CHƯƠNG 2



5

Ngày thứ ba, ngoài cổng có tiếng đàn bà khóc.

Một bà lão tóc hoa râm quỳ sụp trước cổng lò mổ, đập tay xuống đất: "Trả con gái cho ta! A Tịnh nhà ta gả vào đây sáu năm, sáu năm không một dòng tin! Người còn sống thì dắt ra đây, người chết rồi thì trả xương cho già này!"

Đằng sau bà, một lão mặc áo lụa đứng chống gậy, mặt béo bóng nhẫy. Lão Cống, chủ nợ nửa cái trấn này.

Lão không khóc. Lão nói từng chữ rành rọt, đủ cho cả phố nghe:

"Bà con làm chứng cả cho. Lão cho nhà họ Sầm bảy ngày. Bảy ngày không thấy A Tịnh sống mà về, thì đừng trách người trấn này lên huyện cáo quan. Sáu mạng đàn bà, chứ có phải sáu con heo đâu."

Bà lão vịn cổng đứng dậy, giọng khản đặc: "Con ta gả đi có kiệu có lễ hẳn hoi. Sáu năm, một dòng chữ cũng không có. Lễ lạt trong năm, nhà nào con gái cũng về, chỉ nhà ta là không. Người còn sống, ai nỡ bặt tin mẹ già như thế hở trời!"

Bà nghe đến hai chữ cáo quan thì khóc to hơn. Ta để ý thấy mỗi lần bà định đứng dậy, lão Cống lại chống gậy nhích tới nửa bước, nói nhỏ một câu gì đó, và bà lại quỳ sụp xuống khóc tiếp.

Đám đông mỗi lúc một dày. Chính miệng lão Cống buông ra hai chữ trước tiên: "Không tin thì cứ đào sân sau nhà nó lên mà xem."

A Toại chen từ ngoài vào, mặt đỏ gay: "Các người nói bậy! Chủ nhà con mổ heo chứ có mổ người bao giờ!" Nó bị ai đó cốc cho một cái vào đầu, im luôn.

Ta nhìn sang hắn. Người đàn ông ấy đứng giữa sân, tay còn cầm con dao chưa kịp rửa, nghe cả trấn gọi mình là đồ giết vợ.

Không cãi một câu. Không cả nhíu mày.

Chỉ có bàn tay cầm dao là siết đến trắng khớp.

Rồi quay lưng, đóng cổng. Then gỗ rơi xuống nặng nề.

"Ngươi câm rồi à?" ta đứng trong sân, giận run. "Người ta sắp gọi ngươi là đồ giết vợ trước cả trấn, ngươi đóng cổng là xong chuyện chắc?"

Hắn nhìn ta một cái, rất lâu. Rồi đi vào lò, tiếp tục mổ heo.

Tiếng dao chạm thớt đều đặn, từng nhát, từng nhát, như thể ngoài kia không có ai đang đếm ngược bảy ngày mạng sống của người trong lò.

6

Ngày thứ tư, ta bưng cơm ra tận lò, đặt xuống cạnh thớt.

"Sáu người đàn bà trong sổ," ta nói, "giờ ở đâu?"

Hắn ngừng dao. Lau tay vào vạt áo, ngồi xuống bưng bát, và hai miếng cơm rồi mới đáp.

"Đi rồi."

"Đi rồi là đi đâu?"

Hắn không nói nữa. Với người này, hai chữ ấy chắc đã là một câu chuyện dài lắm rồi.

Ta ngồi xuống đối diện, bưng lấy bát của mình.

"Thế trong mấy cái gò sau nhà có gì?"

"Xương."

Ta suýt buông rơi cả đôi đũa. Đợi mãi, không thấy nói thêm chữ nào nữa, cũng không thèm nhìn xem mặt ta lúc ấy ra sao.

Người ta hỏi một câu có thể treo cổ mình, mà hắn đáp gọn một chữ rồi lại và cơm.

Ta đặt bát xuống, nói chậm từng ý một, vừa nói vừa nhìn mặt người ngồi đối diện.

"Sáu cô dâu trốn đi, sáu nhà gái ôm trọn sính lễ, mà nhà này chưa từng sang đòi lại một văn. Sáu nhà ấy, nhà nào cũng là nhà bị gán nợ, y hệt nhà ta. Đàn ông trấn này mất một con gà còn chửi ba ngày. Ngươi mất sáu đám cưới, mất mấy chục lượng bạc, lại không hé răng nửa lời."

"Người ta trốn, ngươi không đuổi. Người ta cầm bạc của ngươi, ngươi không đòi. Ngươi bị gọi là đồ giết vợ, ngươi không cãi." Ta đếm từng thứ trên đầu ngón tay. "Sầm Tuân, ngươi hoặc là kẻ ngốc nhất thiên hạ, hoặc là ngươi đang giấu cái gì đó đáng tiền hơn cả bạc."

Hắn nghe hết, không gật không lắc. Chỉ gắp miếng thịt to nhất trong đĩa, bỏ sang bát ta, như thể chuyện đáng bàn nhất trong bữa cơm này là ta ăn ít quá.

"Ngoài chợ người ta còn đồn," ta chưa chịu thôi, "đồn đêm nào ngươi cũng ra sau nhà đứng cạnh mấy cái gò. Đồn thế là thật hay bịa?"

Hắn gật. Gật gọn lỏn, như nhận mình ăn cơm ngày ba bữa.

Ta nghẹn họng. Người bị đồn giết vợ, nghe kể chuyện mình đêm đêm đứng cạnh gò đất, lại nhận thản nhiên như thế đấy.

Ăn xong bát cơm, hắn đứng dậy, xoa đầu ta một cái như xoa đầu A Toại.

Rồi đi mài dao.

Ta ngồi lại giữa lò mổ, vừa tức vừa muốn cười. Người đâu mà nói chuyện với vợ còn kiệm lời hơn nói chuyện với heo.

7

Ngày thứ năm, đúng phiên chợ, có người gánh hàng ghé cổng, dúi cho A Toại một gói vải buộc lạt, không tên không chữ, nói gọn một câu: "Của khách gửi nhà họ Sầm."

A Toại đưa vào, thản nhiên: "Dạ, năm nào cũng có một gói thế này, phu nhân đừng lạ. Chủ nhà con nhận xong toàn để nguyên, chẳng mở bao giờ."

8

Ta thì mở.

Trong gói là một xâu mận khô, một đôi giày trẻ con khâu vụng, và một tấm khăn chàm mới.

Đôi giày ta cầm lên trước. Mũi giày bé bằng hai ngón tay, đường khâu vụng nhưng mũi chỉ nào cũng chắc, kiểu khâu của người mới tập mà khâu cho con mình.

Người gửi gói này có con rồi. Người sắp chết không đi khâu giày cho con.

Mận khô ta bỏ qua. Tấm khăn thì ta cầm lên là tay không đặt xuống được nữa.

Người thường nhìn vào chỉ thấy một tấm khăn xanh. Ta nhìn vào thì thấy khác.

Màu chàm này không ngâm nước tro như lối trấn ta, mà pha nước phèn, nên xanh ngả xám, sờ vào mặt vải hơi ráp. Cả một dải sông này, chỉ thợ vùng bến Ô Khê mới nhuộm kiểu đó, vì đất bên ấy sẵn phèn.

Ta chưa vội tin mắt mình. Ta múc một bát nước, nhúng góc khăn vào, vò nhẹ rồi đưa lên mũi. Mùi phèn chua thoang thoảng, nước trong bát chỉ hơi gợn xanh.

Chàm ngâm phèn ăn màu chết vào sợi, giặt trăm nước không phai. Đúng nó rồi, không lẫn đi đâu được.

Nghĩa là người gửi gói này đang ở Ô Khê, hoặc quanh quẩn đâu đó gần bến ấy. Cái nghề bị cả trấn chê là tay xanh như ma, hoá ra đọc được thứ chữ mà người sáng mắt nhất trấn cũng không đọc nổi.

Ta chạy vào mở cuốn sổ, dò lại. Dòng thứ ba, dòng giấy nhàu nhất: A Tịnh, mười lượng. A Tịnh, con gái bà lão đang khóc đòi xương ngoài cổng.

Chương trước Chương tiếp
Loading...