Sáu Cô Dâu Trước Đều Trốn Trong Đêm Tân Hôn

CHƯƠNG 6



Lão Cống nhìn xâu bạc, nhìn trăm cặp mắt xung quanh, cầm cũng dở mà không cầm cũng dở. Gậy trong tay lão lần đầu tiên run.

20

Người rút kèo đầu tiên lại là mẹ A Tịnh.

Bà đứng dậy, giật cây gậy trong tay lão Cống, quăng ra cổng: "Cút! Sáu năm nay ngươi mượn nước mắt của ta đi đòi nợ, mượn xác con ta để doạ người! Cút khỏi sân nhà người ta!"

Lão Cống lủi theo cây gậy. Đám đông rẽ lối cho lão đi, không ai nhặt gậy hộ.

21

Chiều hôm ấy, nhà lò mổ lần đầu tiên có tiệc.

Chẳng có gì sang. Thịt thì sẵn, rượu A Toại chạy đi mua, ông lão mài dao vác sang một hũ dưa muối: "Tiền thắng kèo, ăn đi cho vui." Mẹ con bà cháu nhà A Tịnh ngồi kín một góc, khóc chán rồi cười, cười chán lại khóc.

Giữa bữa, A Tịnh bưng chén rượu đến trước mặt hắn, hai tay run run. Hắn không nhận chén, chỉ gắp cho đứa nhỏ một miếng thịt nạc. "Ăn đi. Ăn rồi lớn." A Tịnh đứng đó một lúc, rồi uống cạn chén rượu ấy một mình, nước mắt rơi vào chén không.

Chồng A Tịnh ngồi cạnh ta, nói nhỏ: "Sáu năm nay nhà ta thờ một cái ơn không có tên. Giờ có tên rồi."

Khách về hết, trăng đã lên quá nóc lò. Ta dọn mâm, ra sân đổ nước rửa, thấy hắn ngồi một mình ngoài hiên, tay cầm cuốn sổ sáu dòng.

Ta ngồi xuống cạnh, vạt áo còn hơi nước rửa mâm.

"Năm người kia," ta hỏi, "có tìm được không?"

Hắn lắc đầu.

"Sao thế? Tìm được A Tịnh thì tìm được người khác."

"Không tìm là không tìm. Tìm ra, là kéo người ta về lại chỗ cũ." Hắn gấp cuốn sổ. "Đang sống. Vậy là đủ."

Ta nhìn nghiêng mặt hắn trong ánh trăng. Người này không muốn ai phải quay về chốn cũ trình diện, kể cả để minh oan cho chính mình.

Hắn lật cuốn sổ đến trang cuối, rồi đứng dậy đi về phía bếp. Ta hiểu ngay định làm gì. Lửa bếp còn đỏ.

Ta chụp lấy cổ tay hắn.

"Khoan. Đốt sổ thì bạc coi như mất trắng đấy. Sáu dòng cộng lại, sáu bảy chục lượng chứ ít à."

"Sổ này," hắn nói, "chưa từng là để đòi bạc."

"Ta biết. Nhưng trước khi đốt, ngươi nợ ta một câu chuyện." Ta kéo hắn ngồi xuống lại bậc hiên. "Chuyện tỷ tỷ ngươi."

Tay hắn cứng lại trong tay ta.

22

Hắn im rất lâu. Lâu đến mức ta tưởng lại sắp đứng dậy đi mài dao như mọi khi.

Rồi hắn nói. Một chữ.

"Nợ."

Ta chưa hiểu. Người bên cạnh nhìn cuốn sổ trên gối, nói tiếp, giọng đều đều như người đọc thuộc lòng một thứ đã nhai đi nhai lại ngàn lần trong bụng.

"Sổ này không phải người ta nợ ta. Là ta nợ tỷ ta."

"Tỷ hơn ta tám tuổi. Cha mẹ đi sớm, tỷ vặt lông gà thuê ngoài chợ nuôi ta." Giọng hắn không lên không xuống. "Năm ta mười ba, nhà thiếu nợ. Người ta dắt tỷ đi trừ nợ. Y như cái cảnh ở chợ hôm đó, người ta dắt nàng đến đây."

Ta nín thở, sợ một tiếng động nhỏ cũng làm người kể thôi kể.

"Đêm trước hôm đi, tỷ bảo ta trông nhà, tỷ đi rồi tỷ về." Hắn nhìn ra sáu cái gò lờ mờ trong bóng tối. "Ba năm sau người ta báo sang, tỷ ốm, mất rồi. Nhà chồng chôn đâu không rõ. Ta sang tìm, đến cái bát hương cũng không có phần tỷ. Hỏi mộ, họ chỉ ra một quả đồi, bảo đâu đó trên ấy."

Ta ngồi im. Gió đêm thổi qua sân, mát mà buốt.

"Nhà ấy cửa nẻo kín lắm," hắn nói thêm, câu dài nhất ta từng nghe từ miệng người này. "Tỷ ta không có cửa sau để trốn."

Ta chỉ tay ra sáu cái gò, chỗ đất còn bị đào nham nhở từ sáng.

"Thế còn mấy cái gò kia? Người ta đồn đêm nào ngươi cũng ra đứng đấy, mà ngươi nhận thẳng, không chối một chữ."

"Xương heo thì chôn ngoài ấy. Chôn xong ta đứng một lúc." Hắn ngừng, rồi nói nốt, gọn như đếm tiền hàng. "Không có mộ để thắp, thì đứng đâu chả được."

Ta phải quay mặt đi. Cả trấn nhìn sáu cái gò ấy sáu năm, nghĩ ra đủ thứ, mà không ai nghĩ ra thứ ấy.

Thế nên hắn về, học nghề mổ heo, gây cái lò này. Thế nên nhà hắn có một cái cửa sau không bao giờ khoá. Thế nên con gái nhà nào bị gán nợ dắt đến, hắn nhận tuốt, đêm tân hôn đặt mười lượng lên bàn, hất cằm về phía cửa.

Sáu người bước qua cửa ấy. Sáu lần hắn đứng nhìn người ta đi về phía chị hắn không bao giờ đi được.

"Thế còn ta thì sao?" ta hỏi khẽ. "Ta cũng chỉ là một dòng trong sổ à?"

Hắn quay sang. Trong bóng tối, ta không nhìn rõ mặt, chỉ nghe giọng khàn đi:

"Nàng là người đầu tiên nấu cơm sáng."

Ta phì cười, mà sống mũi cay xè. Đàn ông cái nhà này, đến câu ngọt nhất đời cũng phải nói bằng giọng mổ heo.

23

Sáng hôm sau, gã đến.

Gã đứng ngoài cổng, cười nhăn nhở, bảo em rể mới trắng án, nhà vợ sang mừng, tiện xin ít bạc uống rượu.

Ta ra đóng cổng, nói qua khe: "Cửa nhà này không khoá. Nhưng là không khoá với người muốn ra. Còn người muốn vào ăn chực, thì có then đấy."

Then gỗ rơi xuống đánh cạch. Ngoài cổng chửi um một hồi rồi im.

24

Tối, ta thắp đèn, mài mực, mở cuốn sổ ra trang cuối.

Hắn đứng sau lưng nhìn, không hiểu ta định làm gì.

Ta viết dòng thứ bảy. Nét chữ ta cũng vụng, thợ nhuộm học lỏm được dăm chữ, nhưng viết rất chậm, rất thẳng.

Mạc Nhiễm. Không cầm bạc. Không trốn.

Bàn tay xanh chàm của ta tì lên mép giấy, in lại một quầng xanh mờ mờ cạnh nét mực. Ta định lấy tay áo lau đi, nghĩ thế nào lại thôi. Cái tay này người ta chê cả đời, giờ nó nằm cạnh tên ta trong cuốn sổ này, coi như một dấu điểm chỉ.

Viết xong, ta thổi khô mực, gấp sổ lại, đặt vào tay hắn.

"Giờ thì đốt được rồi. Sáu dòng kia là chuyện cũ. Còn dòng này," ta gõ ngón tay lên bìa sổ, "dòng này không phải giấy nợ, đốt phí đi."

Hắn cầm cuốn sổ, mở ra đọc dòng thứ bảy. Đọc rất lâu, môi mấp máy như dò mặt chữ từng nét.

Rồi không đốt nữa. Cuốn sổ được cất vào đáy rương, chỗ trang trọng nhất, bên trên cả mấy phong thư.

Lúc lên đèn đi ngủ, hắn dúi vào tay ta cái túi mười lượng hôm tân hôn.

"Ta bảo rồi, ta không cầm..."

"Giữ. Tiền chợ."

Ta mở miệng định cãi tiếp, nhìn cái mặt nghiêm ấy lại thôi. Người này sáu năm cho đi từng ấy bạc không chớp mắt, giờ bắt vợ cầm mười lượng mà mặt nghiêm như đi đòi nợ.

Ta cầm túi bạc, đứng giữa buồng, chợt hiểu ra một chuyện buồn cười.

Sổ sáu dòng của nhà này ghi những người đi. Dòng thứ bảy ghi người ở lại. Mà người ở lại thì không cần cửa sau nữa.

Đêm ấy, lần đầu tiên ta nghe tiếng hắn cài then cái cửa sau bếp. Tiếng then gỗ khô khốc, mà ta nằm trong buồng nghe êm như tiếng ru.

25

Phiên chợ cuối tháng, ông lão mài dao ngồi đếm ba văn tiền thắng kèo. A Toại vừa chung tiền vừa cãi: "Con thua là thua cái đề kèo thôi! Ai đời lão ra kèo trụ ba ngày với trụ hết tháng, phu nhân con ở luôn cả đời thì tính cửa nào?"

Ông lão cười khà: "Cửa nào thì tiền cũng về túi lão."

Đầu ngõ, khăn chàm mới nhuộm phơi một dãy, xanh rợp cả lối đi. Người trấn bắt đầu ghé mua. "Chàm nhà lò mổ ăn màu thật đấy," một bà xóc xóc tấm khăn trong tay, "giặt mấy nước cũng chẳng bợt."

Chỉ có hai người vẫn thế. Một bà hàng vải, đi ngang lò mổ vẫn rẽ sang lối khác, như sáu năm nay vẫn rẽ. Và mẹ A Tịnh, hôm về quê thăm con gái ghé qua, đứng ngoài cổng vái hắn ba vái, vái rất sâu, mà mời thế nào cũng không dám bước qua cái cổng lò mổ ấy.

Hắn đứng trong sân nhìn theo, không nói gì. Ta đứng cạnh hắn, cũng không nói gì.

Có những cái tiếng, rửa được trên giấy, mà không rửa được trong bụng người. Hắn biết điều đó trước ta lâu rồi.

Ngoại truyện

Về sau, ta mới được nghe nốt nửa còn lại của chuyện, từ chính miệng hắn, vào một đêm mất ngủ.

Sáng ngày thứ mười, trước lúc người ta kéo cuốc đến sân, sau cửa bếp đã có một cái tay nải buộc sẵn. Hắn dậy từ canh năm, xếp vào đấy hai bộ quần áo và tất cả chỗ bạc còn lại trong nhà.

Quá bốn ngày là quá bốn ngày. Nếu sáng hôm ấy đám đông không kéo đến trước, thì cả trấn đã thấy đồ tể họ Sầm rời trấn giữa ban ngày, và cái tiếng sạch ôm sáu năm coi như xong.

Tấm khăn chàm cũ trong tủ, là khăn A Tịnh gửi về năm đầu tiên. Năm ấy hắn cầm tấm khăn ra chợ, đi hỏi từng sạp vải xem màu này ở đâu nhuộm, vì muốn biết người ta trốn đến nơi ăn ở ra sao, có thật đã sống nổi hay không.

Hỏi đến sạp chàm cuối chợ, có một cô thợ tay xanh cầm tấm khăn lên, chỉ nhìn một cái đã nói: chàm pha phèn, thợ vùng bến sông làm, màu này phải chờ đủ ba nước nhuộm mới bền, người nhuộm nó sống kỹ lắm.

Người nhuộm nó sống kỹ lắm. Một câu ấy, người đàn ông kia về nhà ngủ được trọn giấc đầu tiên sau một năm.

Cô thợ nói xong thì quên ngay. Hắn thì nhớ.

Nhớ cái tay xanh chàm, nhớ cái giọng chắc nịch nói về màu vải như đại phu nói về mạch người. Nhớ đến mức năm năm sau, có gã cờ bạc dắt em gái đến gán nợ, người đàn ông ấy nhìn bàn tay xanh của cô gái kia một cái, là gật, không mặc cả một câu.

Ba mươi lượng, gã kia hét giá gấp ba người thường. Trả đủ, không kỳ kèo một câu.

Nghe đến đấy ta mới sực nhớ ra cái quen quen hôm mở gói. Hoá ra thứ ta thấy quen không phải lối khâu viền mép. Là chính tấm khăn ấy, ta đã cầm trên tay một lần rồi, ở cái sạp chàm cuối chợ, năm năm về trước, và ta đã trả nó lại cho một người đàn ông cao lớn mà ta chẳng buồn ngẩng lên nhìn mặt.

Đêm tân hôn, hắn vẫn đặt túi bạc lên bàn, vẫn hất cằm về phía cửa sau, như đã làm sáu lần.

Chỉ có một điều khác không nói ra: sáu lần trước, hắn mong người ta đi cho thoát. Lần thứ bảy, đặt túi bạc xuống bàn rồi, cả đêm ngồi ngoài chái, nghe từng tiếng kẽo kẹt của cái cửa không khoá, lần đầu tiên trong đời mong nó đừng mở.

Sáng ra nghe mùi khói bếp, vác nửa con heo mà chân díu vào nhau.

Còn cái đêm ta gài dòng thứ bảy vào sổ, người bên cạnh nằm chờ ta ngủ say rồi mới trở dậy, thắp đèn, mở sổ ra xem lại một lần nữa. Ta biết, vì ta có ngủ đâu.

Mấy năm sau, con gái ta lên năm, một hôm lục rương lôi cuốn sổ ra, dò được mặt chữ dòng cuối, chạy đi hỏi cha nó sao sổ nhà mình có mỗi một dòng không có số.

Cha nó đang mài dao, dừng tay, nghĩ mãi mới trả lời:

"Sáu dòng trên ghi người đi. Dòng ấy ghi người ở lại. Người ở lại thì không tính bằng bạc được."

———

Người ta bảo kẻ dữ nhìn mặt là biết. Không hẳn.

Có người cả đời bị chỉ mặt gọi là dữ, chỉ vì họ im lặng gánh một chuyện tử tế không tiện nói ra.

Chưa thấy tận mắt, xin đừng vội gọi là biết.

———

Chương trước
Loading...