MƯỜI HAI TẦNG CỔNG THÀNH KHÔNG NHẬN TA

CHƯƠNG 4



Chàng nhìn rất lâu, rồi xoay người lao thẳng về phía An dân thự.

Hôm nay thương dân quá đông, danh sách ghi chép dày tới mười mấy trang.

Tạ Chiếu Xuyên tìm từ dòng đầu tiên xuống dưới.

Khi lật tới trang cuối cùng, chàng nhìn thấy cái tên “Lục Tri Vi”.

Ô ghi chép thương thế viết rất dài:

Vết thương do tên cũ rách toạc.

Xương sườn rạn nứt hai chỗ.

Bắp chân trái bị dằm gỗ đâm xuyên thấu.

Mất máu quá nhiều.

Vết thương lạnh chưa lành.

Nơi đi: Xuôi nam tới Vân Châu.

Bàn tay chàng nắm chặt cuốn danh sách càng lúc càng siết mạnh:

“Tại sao không có ai báo cho Tướng quân phủ?”

Viên lại phụ trách ghi chép bị hỏi đến run rẩy cả người:

“Đã từng phái người đi, trong phủ nói trong sổ quyến thuộc không có cái tên này, không ai dám nhận, sau đó lại tới quân doanh, người lúc ấy đang dẫn binh ra Tây môn để đón Cố cô nương…”

Những lời phía sau, hắn không dám nói tiếp nữa.

Tạ Chiếu Xuyên gập cuốn sổ lại, dắt ngựa đuổi thẳng tới Nam môn.

Hiệu úy canh cổng báo cho chàng hay, đoàn xe thương dân đã rời khỏi thành được hai canh giờ rồi.

“Mở cổng ra.”

Hiệu úy lộ vẻ khó xử:

“Tướng quân, cầu phía nam ban trưa bị đá ném gãy rồi, ban đêm không thể phi ngựa qua được.”

“Ta bảo mở cổng.”

Cổng thành mới mở được một nửa, phó tướng đã mang quân lệnh đuổi tới.

Quân địch đang tập kết ở sườn núi phía nam, chủ tướng không được phép rời thành.

Tạ Chiếu Xuyên ngồi trên lưng ngựa, phóng tầm mắt nhìn về con đường quan đạo trắng xóa một màu.

Đó là lần đầu tiên chàng thấu hiểu cảm giác bị một cánh cổng thành ngăn chặn lại là tư vị thế nào.

Rốt cuộc chàng vẫn ghìm cương quay đầu ngựa lại.

Không phải vì không muốn đuổi theo.

Mà là sinh mạng của mấy vạn người nơi Bắc Cảnh đang đè nặng trên vai, chàng không có tư cách vứt bỏ thành trì vào thời điểm này.

Sau khi hồi phủ, chàng không hề tới Tây viện.

Chàng sai người mang tất cả văn thư có liên quan tới gia quyến Tướng quân phủ trong suốt một năm qua tới.

Bản thứ nhất là đơn xin nhập tịch vào sổ do ta nộp lên vào mùa đông năm ngoái.

Phía trên đóng dấu đỏ “chờ xét”.

Bản thứ hai là văn thư thúc giục giải quyết nộp bổ sung sau khi ta bị thương vì giá rét.

Góc dưới bên phải có nét chữ phê duyệt của chàng:

Quân vụ bận rộn, tạm hoãn.

Bản thứ ba là sau khi ta bị trúng tên lạc, phó tướng đã thay ta dâng bản danh sách lên lần nữa.

Thậm chí chàng đã dùng bút chu sa khoanh tròn tên của ta lại.

Thế nhưng bên dưới trang giấy đó lại đè lên một bản văn thư khác.

Đơn xin nhập thành của Cố Minh Thù.

Dưới cùng chính là nét chữ của chính chàng:

“Sợ lạnh sợ tối, đêm nay làm xong ngay, xếp hàng đầu tiên.”

Tạ Chiếu Xuyên ngồi dưới ánh đèn, nhìn hai tờ giấy ấy suốt cả đêm không hề cử động.

Trời gần sáng, quan quân nhu lại mang tới một xấp sổ sách cũ.

Than củi trong viện của ta là bị cắt theo quân nhu lệnh do chàng ký duyệt.

Thẻ gỗ tị nạn là phát theo sổ quyến thuộc giới nghiêm do chàng định ra.

Sau khi bị thương không có ai tới thông báo, cũng là vì chàng từng đích thân hạ lệnh, thời chiến tin tức chỉ truyền đạt theo danh sách trong sổ, tránh để kẻ khác mạo nhận thân quyến làm rối loạn quân tình.

Mỗi một quy củ đều không hề sai.

Mỗi một người thi hành đều không hề sai.

Sai là ở chỗ chàng rõ ràng biết ta không có tên trên sổ, nhưng hết lần này đến lần khác lại đặt hai chữ “sau này” lên trước tên của ta.

Tạ Chiếu Xuyên nâng tay ôm lấy mặt.

Mãi đến giờ phút này chàng mới hiểu được, nỗi tủi nhục mà ta phải chịu đựng suốt một năm qua chưa bao giờ chỉ là vì một cuốn sổ danh sách.

Cuốn sổ ấy quyết định ta có thể về nhà hay không, có thể sưởi ấm hay không, có thể trốn thoát giữ lấy mạng sống hay không, và sau khi bị thương có ai hay biết hay không.

Vậy mà chàng lại tự tay viết tên Cố Minh Thù ở vị trí đầu tiên.

Lại tự tay bỏ mặc ta lại nơi khoảng trống hoang lạnh.

Ta đã không thể tỉnh táo để đi tới Vân Châu.

Đêm thứ hai sau khi đoàn xe rời khỏi Bắc Cảnh, ta bắt đầu phát sốt.

Vết thương trên chân bị xóc nảy suốt dọc đường, chỉ khâu đã bục ra ba chỗ.

Vết thương ở vai cũng đã mưng mủ, mỗi nhịp thở lồng ngực như bị một khối sắt nung đỏ đè nặng lên.

Bà lão đi cùng đem hết chăn bông của mình đắp lên người ta, nhưng vẫn không sao đè nổi cơn run rẩy của ta.

Con gái bà không ngừng lau mồ hôi cho ta.

Ta sốt đến mê man lú lẫn, trong miệng cứ lẩm bẩm lặp đi lặp lại một câu:

“Mở cửa.”

Mãi về sau ta mới biết, khi đoàn xe tới Vân Châu, ta đã hôn mê suốt một ngày một đêm.

Người cứu ta là Sầm đại phu của Tế An Đường ở phía nam thành.

Bà cắt mở lớp vải trên chân ta, chỉ riêng việc lọc bỏ phần thịt thối rữa đã mất nửa canh giờ.

Lúc ta tỉnh lại, bên giường đặt một chậu đồng.

Nước trong chậu đã đỏ ngầu máu tươi.

Sầm đại phu thấy ta mở mắt, chỉ hỏi: “Muốn sống không?”

Ta gật đầu.

“Muốn sống thì ráng mà nhịn.”

Bà không cho ta dùng ma phí tán.

Dược liệu dự trữ trong tiệm thuốc không nhiều, thương binh từ tiền tuyến chuyển về quá đông, có thể tiết kiệm được phần nào hay phần đó.

Khi lưỡi dao cạo qua miệng vết thương, ta đau đến mức toàn thân toát mồ hôi lạnh, ngón tay cào rách cả ga giường.

Chương trước Chương tiếp
Loading...