Năm Dải Lụa Trắng
Chương 3
Sáu năm sau đó, cứ mùng Một và ngày Rằm, ngài vẫn theo lệ đến Khôn Ninh cung.
Nhưng chỉ ngủ trên giường nhỏ ở gian ngoài.
Trời chưa sáng đã rời đi.
Người trong cung đều khen Hoàng hậu hiền đức, chưa bao giờ ghen tuông tranh sủng.
Ta đến tư cách ghen tuông còn chẳng có.
Đêm qua, vào giờ Tuất, Cao Đức Hải nâng di chiếu đến, hai vành mắt đỏ hoe.
“Hoàng thượng… đã băng hà tại Ngự thư phòng.”
“Những phi tần không có con nối dõi phải tuẫn táng trước giờ Tý.”
Khi tiếp chỉ, tay ta không hề run rẩy.
Ta chỉ nghĩ, rốt cuộc ngài vẫn không qua khỏi căn bệnh cũ ấy.
Thục phi là người đầu tiên đứng dậy.
“Thần thiếp đi thay y phục.”
Nàng lục ra bộ cung trang vàng hạnh, đứng trước gương đồng ướm đi ướm lại.
“Nương nương, thần thiếp mặc bộ này, có còn giống năm ấy không?”
“Vẫn giống.”
“Người gạt thần thiếp.”
Nàng vừa cười vừa lau khóe mắt.
“Eo đã chật rồi. Thần thiếp đã hai mươi tám tuổi.”
Chu chiêu nghi nắm chặt ống tay áo, hỏi ta đến ba lần:
“Nương nương, tiền thuốc cho đệ đệ thần thiếp đều do thần thiếp dè sẻn từ bổng lộc hằng tháng.”
“Thần thiếp đi rồi, trong cung có tiếp tục cấp bạc không?”
“Có.”
“Tư khố của bổn cung đủ cho đệ ấy uống thuốc cả đời.”
Trần tiệp dư vẫn luôn ngồi viết thư.
Viết rồi xé, xé rồi lại viết.
Đến lá thư cuối cùng, nàng gấp cẩn thận, nhét vào tay áo.
“Nương nương, bọn họ có đưa nguyên bộ y phục này về nhà thần thiếp không?”
“Có.”
Lâm mỹ nhân mới mười sáu tuổi.
Nàng bám chặt cửa điện mà khóc, nhất quyết đòi gặp mẫu thân.
“Nương nương, mẫu thân thần thiếp đang ở ngay bên ngoài Thần Võ Môn! Thần thiếp nghe cung nhân nói rồi!”
“Thần thiếp chỉ nhìn người một lần thôi, nhìn một lần rồi sẽ quay lại!”
Thái giám canh cửa ngăn nàng lại.
Chiếc hài của nàng cũng rơi mất khi ấy.
Ta kéo nàng trở về, thay nàng chỉnh lại tóc mai.
Sau đó, ta gấp đạo di chiếu thành một hình vuông nhỏ, cất vào vạt áo trước ngực.
Thục phi hỏi ta:
“Nương nương giữ nó làm gì?”
“Nếu sau này có kẻ nói chúng ta kháng chỉ, đây chính là bằng chứng.”
“Dù Thẩm gia hay gia đình các muội, cũng không ai được phép vì chúng ta mà chịu liên lụy.”
Đó là chút thể diện cuối cùng ta có thể giữ lại cho gia quyến các nàng.
Trong điện, Hoàng thượng đưa tay vào vạt áo ta, lấy ra đạo di chiếu ấy.
Tờ giấy từng được thân thể ta ủ suốt một đêm, giờ đã lạnh ngắt.
Ngài nhìn chằm chằm dấu son đỏ trên chiếu, hồi lâu không rời mắt.
Quý phi bước vào, ghé sát tai Hoàng thượng nói:
“Hoàng thượng, đốt nó đi.”
“Đốt rồi sẽ chẳng còn ai chứng minh được đêm nay trong cung từng ban đạo chỉ này.”
“Nếu năm nhà kia đến chất vấn, cứ nói bọn họ nghe nhầm.”
Cao Đức Hải vẫn quỳ, không dám đứng dậy.
“Nương nương, e rằng đốt cũng chẳng xóa sạch được.”
“Vì sao?”
“Khi nô tài phụng chỉ đưa thư đến năm nhà, trong thư… đã chép lại nguyên văn di chiếu.”
Các đốt ngón tay đang siết đạo di chiếu của Hoàng thượng dần trắng bệch.
Ngoài điện, tiểu thái giám lại bẩm:
“Hoàng thượng, Lâm phu nhân vẫn đang quỳ ngoài Thần Võ Môn, trán đã dập đến bật máu.”
“Bà ấy nói muốn vào trong, đón nữ nhi về nhà.”
Hoàng thượng đưa đạo di chiếu đến gần ngọn nến.
Lưỡi lửa liếm lên mép giấy, khiến một góc cuộn lại, cháy xém đen.
Nhưng ngài lại rụt tay về.
Quý phi nóng ruột.
“Hoàng thượng!”
“Đốt cũng vô dụng.”
Giọng Hoàng thượng khàn đặc.
“Cả năm nhà đều cầm bản sao. Đốt bản gốc, chẳng khác nào trẫm tự nhận mình chột dạ.”
“Vậy phải làm sao? Chẳng lẽ cứ thế thừa nhận?”
“Thừa nhận cái gì?”
Hoàng thượng ngước mắt nhìn nàng.
“Thừa nhận trẫm giả chết, bức tử năm phi tần ư?”
Quý phi cắn chặt môi.
Đúng lúc ấy, nơi cửa điện vang lên một tiếng cười lạnh.
“Không thừa nhận, cũng là chuyện do chính ngươi làm.”
Thái hậu được ma ma dìu tay, đứng bên ngoài ngưỡng cửa.
Bà không mặc triều phục, mái tóc mới búi được một nửa. Hẳn bà đã bị tiếng khóc ngoài Thần Võ Môn đánh thức.