Tháo Mũ Vì Nàng

Chương 1



Lệ xuất cung của cung nữ chỉ có một dòng: đọc tên đến ai, người nhà bước ra, ký vào sổ, nhận về. Không ai nhận thì theo người của quan môi. Quan môi phát gả đâu, về đấy.

Ta đứng cuối hàng, nghe bà quản sự đọc tên mình. Không ai bước ra.

Người của quan môi đã cầm sẵn quyển sổ khác. Đúng lúc ấy, có tiếng giáp trụ khua. Một người lính gác cổng tháo mũ, bước ra khỏi hàng.

“Doãn Chiêu, ai nhận?”

“Ta nhận.”

1

Sáng mùng năm tháng ba, cổng Tây mở sớm hơn thường lệ.

Ba mươi sáu cung nữ mãn hạn xếp hai hàng dưới bóng tường. Ai cũng ôm một tay nải. Mười năm, hay mười lăm năm, gói lại vừa một ôm tay.

Ngoài cổng, cạnh gốc hoè, đậu một chiếc kiệu hoa.

Hai phu kiệu ngồi vắt chân trên càng kiệu, một người già một người trẻ, thay nhau gãi đầu.

Có người thì thào, chắc kiệu đón dâu nhà nào đậu nhờ. Cổng cung chứ có phải cổng chùa đâu mà đậu nhờ, người khác cãi. Chẳng ai cãi đến cùng.

Bà quản sự đứng giữa, mở sổ, cất giọng đọc lệ trước. Đọc tên đến ai, người nhà bước ra, đối tên họ, ký vào sổ, nhận người về. Không người nhận, theo người của quan môi, ghi sang sổ bên kia, phát gả đâu về đấy.

Rồi bà đọc tên.

“Trương Nhược Nhi.” Một bà tóc bạc lao ra, ôm lấy con gái, khóc to đến nỗi lính gác phải ngoảnh đi.

“Tôn Uyển.” Một người đàn ông cụt tay áo bên trái bước ra, cười ngượng nghịu, gọi một tiếng muội muội.

Có nhà đến những bảy tám người, tranh nhau xách hộ cái tay nải bé bằng bàn tay. Có nhà chỉ một đứa trẻ chừng mười tuổi, chìa tờ giấy có điểm chỉ của người lớn, nói con đến đón cô ruột con. Bà quản sự xem giấy, gật, cho nhận.

Cứ thế, hàng người ngắn dần. Tiếng khóc tiếng cười trộn vào nhau, nghe không phân biệt được nữa.

“Doãn Chiêu.”

Ta bước lên một bước. Trước mặt không có ai.

Bà quản sự đọc lại lần nữa, mắt dò một vòng ngoài cổng. Vẫn không có ai.

Bà rút trong sổ ra một tờ giấy, hạ giọng, đọc cho mình ta nghe. Giấy của lý chính ngõ cũ gửi lên: hộ Doãn đã dời đi ba năm trước, bán nhà trả nợ, không rõ đi đâu.

Ta nghe xong, cúi đầu vâng một tiếng.

Thư nhà bặt từ năm thứ tư. Nhà dời đi năm thứ bảy. Ba năm ở giữa ấy, nhà ta vẫn còn nguyên chỗ cũ, mà không ai viết cho ta lấy một chữ.

Mười năm trước nhà ta còn ở đó. Mười năm sau, đến cái ngõ cũng không còn ai nhớ nhà ta từng ở đó.

2

Người của quan môi đứng dưới gốc hoè, cách chiếc kiệu hoa ba bước, tay ôm quyển sổ bìa xám.

Bà quản sự nói, lệ cho chờ đến giờ thân. Quá giờ thân thì ghi sổ.

Ta đứng vào chỗ khuất nắng, nhìn bóng cột cổng ngắn dần. Ba mươi lăm người đã có nơi có chốn, mình ta còn đứng lại, thành ra cả cái cổng rộng thế mà không có chỗ nào cho vừa một người.

Trong tay nải có mười bảy lượng bạc. Mười năm quét sân, đổi được chừng ấy. Ta đứng nhẩm xem mười bảy lượng thuê nổi một gian nhà nhỏ trong bao lâu, nhẩm chưa xong thì nắng đã xế.

3

Ta vào cung năm mười ba tuổi.

Năm ấy cha ta buôn thua một chuyến hàng, nợ chồng lên nợ. Người ta đến nhà dỡ cả cánh cửa.

Ta theo mối tuyển vào cung làm tạp dịch, tiền công đưa trước, đủ đắp một nửa món nợ. Nương ta tiễn ta ra đầu ngõ, chỉ dặn một câu, sống mà về.

Năm đầu tiên ta ốm một trận suýt chết.

Sau này nghe các tỷ cùng phòng kể lại, đêm ấy ta sốt mê man, người đã lạnh nửa dưới, các tỷ tưởng sáng ra phải khiêng ta ra khỏi cung theo cửa dành cho kẻ xấu số. Vậy mà nửa đêm có thái y đến, cứu về được. Ai cho gọi thái y giữa giờ cấm, trong cục không ai biết. Các tỷ bảo ta cao số.

Chín năm còn lại, ta quét sân.

Sân cung rộng, lá ngô đồng rụng quanh năm. Mùa xuân quét hoa, mùa thu quét lá, mùa đông quét tuyết, tay ta chai từ năm mười lăm tuổi.

Quét tốt cũng chẳng ai khen, quét sót một chiếc lá trước giờ quý nhân đi qua thì cả cục chịu phạt. Ta học được cách sống của kẻ dưới đáy: làm cho tròn, thở cho khẽ, đừng để ai phải nhớ đến tên mình.

Lệ cung nữ tạp dịch ta thuộc hơn thuộc mặt mình. Đi phải cúi đầu, mắt nhìn xuống.

Cấm bắt chuyện với lính gác, lính gác cũng cấm bắt chuyện với cung nữ, bên nào mở miệng bên ấy chịu tội, tội không nhẹ. Mỗi tháng hai kỳ, mùng một và rằm, theo bà quản sự ra phố mua đồ khô cho cả cục, đi ra cổng Tây, về cũng cổng Tây, đầu cúi suốt dọc đường.

Ba năm đầu, mỗi năm nhà ta gửi vào một phong thư. Ba năm sau, thư ta gửi về không có hồi âm. Bốn năm cuối, ta thôi gửi.

Ta chỉ còn cái đích mãn hạn. Ra khỏi cổng, về nhà, đắp nốt nợ, sống tiếp. Giờ thì cái đích ấy cũng vừa dời đi đâu không rõ, như hộ Doãn trong tờ giấy của lý chính.

4

Mặt trời ngả về tây. Người của quan môi bắt đầu sốt ruột, đi đi lại lại, bóng đổ qua chân ta mấy lượt.

Còn chừng một canh giờ nữa mới đến giờ thân, bà ta đã bước lại, mở sổ ra. Thôi thì ghi sớm cho xong, đằng nào cũng thế.

Trên vọng gác có tiếng người vọng xuống, không to, nhưng rõ từng chữ.

“Chưa đến giờ thân. Chịu thêm một canh giờ nữa.”

Câu ấy nghe quen tai lạ lùng. Quen như một món ăn thuở bé, nhớ vị mà không nhớ tên.

Ta ngẩng lên. Trên vọng gác chỉ thấy một bóng giáp trụ đứng nghiêm, mũ che nửa mặt.

Người của quan môi lẩm bẩm gì đó, nhưng vẫn gập sổ lại, lui về gốc hoè.

Một canh giờ ấy dài như một năm. Rồi trống điểm giờ thân.

Bà ta bước lại lần nữa, lần này đi thẳng, không nhìn ta, chỉ nhìn cái tên trong sổ. Và đúng lúc ấy có tiếng giáp trụ khua sau lưng ta.

Người lính trên vọng gác đã xuống từ lúc nào, tháo mũ cắp vào nách, bước ra khỏi hàng lính gác, đến trước mặt bà quản sự.

Bà quản sự nhìn hắn, hỏi theo lệ. “Doãn Chiêu, ai nhận?”

“Ta nhận.”

Cả cổng Tây im phăng phắc. Bà quản sự nhíu mày.

Chương tiếp
Loading...