Tháo Mũ Vì Nàng

Chương 2



“Ngươi là gì của Doãn Chiêu?”

“Ta là vị hôn phu của nàng.”

Ta đứng ngay đó mà suýt bật hỏi, của ai cơ.

Mặt hắn, ta nhìn thẳng mà không nhận ra một nét nào. Da sạm nắng, đường mày rậm, quai hàm vuông, chừng ngoài hai lăm. Mười năm trong cung, ta chưa từng nhìn thẳng mặt một người lính nào.

Viên coi sổ cổng ghi tên hắn vào, đọc rõ từng chữ. Vệ Cẩn, cấm quân, đội cổng Tây. Rồi ông ta ngẩng lên, nói trắng ra một điều.

“Khai vị hôn phu thì cứ khai. Nhưng rằm này kỳ khám sổ, phải trình hôn thư lên ty. Không trình được, tội khi man, ngươi chịu quân pháp. Còn cô nương này,” ông ta gõ bút xuống sổ, “vẫn về sổ quan môi.”

“Được.” Hắn đáp gọn như nhận một phiên gác.

Bà quản sự vẫn chưa hết nghi, hỏi thêm một câu. Sao giờ này ngươi mới ra nhận, để người ta đứng từ sáng.

“Phiên gác của ta đến giờ thân mới đổi,” hắn đáp. “Lính gác không được rời vị trí giữa phiên.”

Ta chợt hiểu cái câu vọng xuống từ vọng gác lúc nãy.

Chịu thêm một canh giờ nữa. Không phải nói riêng cho người của quan môi. Là hắn tự nói với hắn.

5

Ra khỏi cổng, hắn đi thẳng đến chiếc kiệu hoa, vỗ vào càng kiệu. Hai phu kiệu bật dậy.

“Lên đi,” hắn nói với ta.

“Kiệu này của ai mà ngươi bảo ta lên?”

“Của tiệm kiệu. Ta thuê từ sáng sớm, thuê rồi mà không lên thì phí.”

Ta đứng nguyên, nhìn chiếc kiệu hoa đỏ rực giữa ngày thường.

Người phu kiệu già gãi đầu, chen vào đỡ lời. “Cô nương lên hộ già này một chuyến. Thuê từ lúc gà chưa gáy, đợi đến tận giờ thân, kiệu hoa mà đi đường thường thế này, về tiệm còn lấy thêm hai mươi văn nữa đấy ạ.”

“Lấy thì lấy,” hắn đáp.

Ta nhìn hắn, hỏi câu mà ta đã nén từ nãy. “Ngươi nhận ta, muốn đổi cái gì? Nói giá đi.”

Hắn cúi xuống vén rèm kiệu, đáp đúng hai chữ.

“Về đã.”

6

Kiệu dừng ở ngõ Thanh Hoè, trước một hàng cơm nhỏ, hai gian, mái ngói cũ.

Chủ hàng là một bà goá ngoài năm mươi, người ngõ gọi Quế thẩm. Bà quen thân nhà hắn từ thuở hắn còn để chỏm, cha nương hắn mất sớm, bà coi hắn nửa như cháu nửa như con.

Bà ra tận cửa đón, nhìn ta từ đầu xuống chân, rồi quay sang hắn, chống tay lên hông.

“A Cẩn. Mười năm lương lính của ngươi đủ mua nửa gian nhà. Vậy mà đến hôm nay già này mới thấy ngươi mua nổi một chuyến kiệu.”

“Quế thẩm.” Hắn cúi đầu. “Phiền thẩm cho cô nương này ở gian sau. Đến rằm.”

“Ở thì ở. Nhà này thiếu gì chỗ, thiếu người ăn cơm thôi.”

Bà kéo tay ta vào trong, vừa đi vừa nói, giọng như đã quen ta mười năm. “Gian sau có giường tre, có hòm gỗ. Cô nương cứ ở nhé. Cơm nước có sẵn, đói thì xuống bếp, đừng khách khí với già này.”

Bữa tối đầu tiên, bà dọn ba món, ép ta ăn hai bát. Ta ăn mà cứ ngồi chưa hết nửa mông ghế, mắt canh chừng cửa, đũa gắp toàn miếng gần nhất.

Bà nhìn một lúc rồi thở dài.

“Ăn kiểu này là kiểu ăn của người mười năm ăn cơm đứng. Từ mai ngồi cho chạm lưng ghế nhé, gắp cho tới món xa nhất. Nhà này không ai giật bát của con bé này đâu.”

Đêm ấy ta nằm trên chiếc giường tre lạ, nghe tiếng mèo chạy trên mái ngói, không ngủ được. Mười năm nay lần đầu ta ngủ một mình một gian, rộng quá hoá trống.

Sáng ra, bà dọn hàng, ta xuống phụ. Bà không đuổi, chỉ dúi cho ta cái tạp việc rửa rau.

Từ bữa ấy bà gọi ta là con, không hỏi ta có bằng lòng hay không. Ta cũng không dám hỏi lại, chỉ thấy cái tiếng ấy rơi vào tai êm quá, êm đến mức phải nín thở mới nghe cho trọn.

Rồi bà kể, như kể chuyện nhà.

“Rằm này nó phải trình hôn thư lên ty. Lính cấm quân cưới vợ phải trình, có quan trên phê mới thành. Trình không được thì nó chịu quân pháp, con về sổ quan môi.”

Bà thái rau, dao gõ đều trên thớt. “Mười ngày. Già này nấu cơm sáu chục năm, chưa thấy ai nấu nồi cơm nào gấp thế.”

“Thẩm.” Ta ngẩng lên. “Hắn là người thế nào?”

Bà ngẫm một lúc, rồi đáp. “Là loại người nhặt được tiền ngoài chợ thì đứng nguyên chỗ ấy chờ người ta quay lại tìm. Chờ đến tối.”

7

Tối hôm ấy hắn ghé, quần áo thường, tay xách một xâu tiền lẻ đưa Quế thẩm, nói là tiền cơm tháng này.

“Nhà này bán cơm cho khách,” bà đẩy lại, “không bán cơm cho người nhà.”

“Thẩm không cầm thì mai con không dám ghé.”

“Cái thằng này.” Bà cầm, mà mắng, mắng mà cười.

Ta chờ hắn ở sân sau, đặt lên bàn mười bảy lượng bạc, đẩy về phía hắn.

“Mười năm quét sân của ta, được chừng này. Ơn hôm nay ngươi nhận ta ở cổng, ta chuộc bằng chừng này, đủ không? Thiếu thì ta làm trả dần.”

Hắn nhìn gói bạc, không đưa tay.

“Không bán.”

“Cái gì cũng có giá.” Ta nói chậm, từng chữ. “Ta ở trong cung mười năm. Trong ấy, một bát nước đầy cũng có giá của nó.”

Hắn vẫn không đưa tay. Ta nói tiếp.

“Năm ta mười lăm tuổi, có tỷ tỷ cùng phòng nhường ta chỗ ngủ gần bếp lò một mùa đông. Ta khâu vá trả cho tỷ ấy ba tháng, hai bên mới coi là xong. Không ai cho không ai cái gì. Kẻ nào nói cho không, kẻ ấy đòi thứ đắt nhất.”

“Nàng ở trong ấy mười năm,” hắn nói. “Có ai đòi nàng thứ đắt nhất chưa?”

Ta ngẩn ra. Câu hỏi ấy ta không chuẩn bị.

“Chưa,” ta đáp thật.

“Vậy thì cái lý của nàng chưa đúng hết.”

Hắn im lặng nghe hết phần còn lại, không cãi thêm câu nào. Rồi hắn xắn tay áo, ra góc sân, chẻ hết đống củi của Quế thẩm, gánh đầy hai vò nước, quét luôn cái sân.

Ta đứng trong bếp nhìn ra, càng nhìn càng khó chịu. Người đến đòi nợ thì ngồi. Người đến trả nợ mới đứng dậy làm. Mà hắn thì chẳng phải bên nào.

“Ngươi làm thế,” ta nói vọng ra, “là ghi thêm vào sổ của ta đấy.”

“Sổ nào?” hắn hỏi, không ngoảnh lại.

“Sổ ta nợ ngươi.”

“Vậy thì nàng cứ ghi.” Tiếng dao bổ vào thớ củi. “Sổ ấy nàng giữ, nàng ghi, nàng tính. Ta không đòi.”

Làm xong, hắn phủi tay, nói với ta đúng một câu trước khi về.

“Bạc của nàng, nàng giữ.
 

Chương trước Chương tiếp
Loading...