Mặt Sẹo Không Ai Lấy, Người Mù Đến Hỏi Cưới
CHƯƠNG 2
Không ra hiệu mặt tiền. Không đứng chỗ khách nhìn thấy. Ăn sau, dọn trước. Bà nói lệ như đọc sổ, mỗi câu một dòng, không cần ta gật.
Ta gật cho bà đỡ phải nhìn lại.
Hắn ngồi đầu bàn, ăn xong bát cháo, đặt đũa xuống, nói với phía có tiếng bà.
"Con ra hiệu."
Đũa của bà dừng.
"Con ra làm gì?"
"Sờ vải."
"Tám năm nay có lão Đằng."
"Tám năm nay con ở gian sau. Hôm nay con ra."
Bà nhìn ta, vì ta là thứ mới duy nhất trong nhà này, và cái gì mới thì bà nhìn.
"Để A Đình dắt."
"Vợ con dắt."
Ta chưa từng nghe ai gọi mình là vợ ai, nghe xong tay ta cầm bát chặt hơn một chút.
Hiệu Tiết Ký ở ngay mặt tiền, đi qua sân, qua gian giữa là đến, không cần ra phố.
Nhưng tám năm hắn không đi hết cái sân ấy.
Ta đi bên phải hắn, tay hắn đặt trên cổ tay ta, không nắm, chỉ đặt, như đặt lên mép bàn.
Lão Đằng đang xếp cây vải trên kệ, quay lại thấy chúng ta thì cây vải trên tay rơi xuống quầy.
"Công tử. Thiếu phu nhân. Sao lại ra đây."
"Lão bán hàng đi. Ta sờ."
Hai người khách đang xem lụa lùi nửa bước.
Một người nhìn dải băng xanh trên mắt hắn, một người nhìn vết sẹo trên mặt ta, rồi hai người nhìn nhau như hỏi nên sợ cái nào trước.
Hắn không biết có người lùi, hắn chỉ đưa tay lên kệ.
Tay hắn đi trên cây vải như đi trên đường quen, mỗi cây dừng một nhịp, sang cây khác.
Đến cây thứ năm, tay hắn dừng lâu hơn.
"Cây này đề gì?"
Lão Đằng liếc nhãn.
"Lụa Hàng Châu, hạng nhất."
"Cây này không phải lụa Hàng Châu."
Cả hiệu im, rồi lão Đằng cười cái cười của người quản hiệu tám năm.
"Công tử, hàng gã Vạn giao tháng trước, có giấy, có dấu. Già này nhìn tận mắt."
"Giấy thì sáng mắt mới đọc được. Lụa thì không cần."
Hắn quay đầu về phía ta.
"Nàng thêu thuê cho hiệu bốn năm. Nàng nói xem."
Ta không cần sờ, ta đã thấy từ lúc bước vào, vì lụa Hàng Châu dưới nắng có một thứ ánh mà cây này không có.
Nhưng nói bằng mắt thì lão Đằng cãi được, nên ta rút một sợi ở mép cây vải, đưa lên ngọn đèn dầu trên quầy.
Sợi cháy, cuộn lại, mùi bay lên.
Mùi giấy cháy.
"Tơ cháy thì mùi như tóc. Cái này pha bông, pha quá nửa."
Lão Đằng đứng im như cây cột.
Hai người khách thôi lùi, bước lên, ghé mũi vào sợi khói.
"Ba mươi cây," hắn nói. "Sáu mươi lượng. Gọi gã Vạn."
4
Gã Vạn đến vào buổi chiều, dắt theo con la và cái giọng của người chưa từng bị ai bắt lỗi.
Gã nhìn hắn, nhìn dải băng, rồi nhìn ta, rồi cười với lão Đằng vì lão là người duy nhất trong hiệu gã coi là có mắt.
"Lão Đằng, hiệu Tiết Ký giờ để người mù xem lụa à?"
"Người mù xem lụa," hắn nói, "còn người sáng mắt xem giấy."
Hắn bảo ta đưa cây vải mẫu gã Vạn để lại hồi ký giấy, cây ấy vẫn nằm trong tủ, có dấu gã.
Tay hắn đặt lên cây mẫu, rồi đặt lên cây hàng, qua lại ba lượt.
"Cây mẫu là lụa. Cây hàng là bông pha. Cùng một dấu."
Gã Vạn đỏ mặt.
"Sờ mà biết? Tơ với bông, tay ai sờ chả mềm như nhau."
"Tay ngươi sờ như nhau. Tay ta không."
Ta rút sợi ở cả hai cây, đốt cạnh nhau trên đèn.
Một sợi mùi tóc cháy, một sợi mùi giấy cháy.
Khách ở phố Đông không ai bảo ai kéo vào đứng chật cửa, vì ở trấn Thanh Khê chuyện có mùi là chuyện đáng xem nhất.
Gã Vạn nhìn hai sợi khói, nhìn ba chục người đang nhìn gã, rồi tự nhiên hạ giọng.
"Chắc bên kho giao nhầm. Để ta đổi."
"Đổi ba mươi cây. Trong mười ngày. Không đổi thì ta cho cả phố ngửi nốt hai mươi chín cây còn lại."
Gã Vạn dắt la đi, con la còn quay đầu lại nhìn cái hiệu như tiếc.
Lão Đằng đứng sau quầy, tay xoa cái sổ, mặt của người tám năm nhìn tận mắt mà hoá ra không thấy gì.
"Công tử, tám năm nay hàng vào ra chỉ có già này với hai con mắt."
"Hai con mắt của lão bị lừa. Tay ta thì không. Từ mai lão cứ nhìn, ta sờ, chia việc."
Ta quay ra định dắt hắn vào, thì thấy mẹ chồng ta đứng ở cửa gian giữa.
Bà đứng đó từ lúc nào ta không biết, đứng như lúc ở ngưỡng cửa buồng đêm cưới, tay không cầm đèn, mặt không có gì để đọc.
Bà nhìn hắn một lúc, rồi quay vào, không nói câu nào.
Từ hôm ấy hắn ngồi quầy mỗi sáng.
Lão Đằng kê thêm một cái ghế bên phải quầy, kê xong lại cất đi, vì ta không ngồi. Ngồi thì hắn đưa tay ra không đúng tầm.
Ta đứng bên phải hắn, chỗ khách nhìn thấy, vì hắn đưa tay ra là phải có cổ tay ta ở đó, chỗ khác thì hắn không tìm.
5
Khách hết sợ vải pha thì bắt đầu sợ dải băng.
Không phải người lớn, người lớn nhìn một lần rồi quen. Trẻ con thì không quen.
Ngày thứ chín, con bé nhà bán dầu theo nương vào mua vải, nhìn thấy hắn ngồi sau quầy với dải lụa xanh bịt ngang mặt, khóc ré lên, kéo nương nó ra tận giữa phố.
Nương nó xin lỗi, mua vội hai thước vải thô rồi đi, không dám nhìn lại.
Lão Đằng thở dài.
"Công tử, hay là ngồi gian sau, để già này gọi khi có hàng cần sờ."
Hắn không trả lời lão, hắn hỏi ta.
"Băng này trông thế nào?"
"Trông như người bị thương."
"Nàng có cách nào cho nó trông khác không?"
Ta nhìn dải lụa xanh, nhìn khung thêu ta để ở góc quầy, rồi nói cái điều ta nghĩ, vì ta không có thói quen nghĩ mà không nói.
"Để ta thêu lên."
"Thêu gì lên băng?"
"Mắt."
Lão Đằng nhìn ta như nhìn người vừa đề nghị vẽ mặt lên lưng.
Tối ấy ta thêu đến canh ba.
Hai con mắt trên nền lụa xanh, thêu bằng chỉ đen và chỉ trắng, to bằng mắt thật, đặt đúng chỗ mắt hắn.
Sáng ra ta quấn cho hắn, dẫn hắn ra quầy, A Đình đang quét sân nhìn theo, chổi dừng.
"Thiếu phu nhân, trông như công tử đang ngủ gật."
Ta nhìn lại, đúng là ngủ gật: hai con mắt thêu khép hờ, lông mi rủ, vẻ mặt của người vừa ăn xong bát cháo nóng.
"Hôm nay ngủ gật. Mai ta thêu lại."
Đêm thứ hai ta thêu mắt mở, đuôi mắt hơi cong lên, để trông như đang cười.