Mặt Sẹo Không Ai Lấy, Người Mù Đến Hỏi Cưới
CHƯƠNG 3
Sáng ra A Đình lại dừng chổi.
"Hôm nay trông như công tử đang nhìn thấy trò gì buồn cười lắm."
"Thế này thì được chưa?"
"Được. Nô tỳ cũng muốn cười."
Con bé nhà bán dầu quay lại vào ngày thứ mười hai, vì nương nó cần thêm vải.
Nó đứng ở cửa, nhìn hắn, hắn nghe tiếng chân trẻ con thì quay mặt về phía ấy, hai con mắt thêu cười với nó.
Nó không khóc, nó đứng nhìn một lúc, rồi hỏi nương nó, to đủ cả hiệu nghe.
"Nương, công tử kia có hai mắt giả đẹp hơn mắt thật của con."
Cả hiệu cười.
Hắn cười theo, và cái cười thật dưới hai con mắt thêu làm cho cả cái mặt hắn thành ra một trò vui mà không ai nỡ bỏ đi.
Từ hôm ấy phố Đông có thêm một chỗ để đến xem, và người ta gọi hắn là công tử mắt thêu.
Đến xem thì tiện tay mua vải, vì không mua thì ngại đứng lâu.
Tối hôm ấy lúc thay băng, hắn hỏi ta một câu.
"Mắt thêu nhìn đi đâu?"
Ta ngừng tay, vì ta chưa nghĩ đến chuyện ấy.
"Ta thêu nhìn thẳng, như mắt người thường."
"Mai thêu nhìn sang phải."
"Sang phải làm gì?"
"Nàng đứng bên phải."
Ta quấn nốt dải băng, thắt hai lần, và không nói gì, vì lần này ta không có gì để kể trước.
Hôm sau ta tháo chỉ hai con ngươi, thêu lại lệch sang phải một sợi, không ai nhận ra, trừ người đứng bên phải.
6
Ngày thứ mười lăm, trẻ con phố Đông nghĩ ra một trò.
Chúng mang đến hiệu những mảnh vải nhà mình, mảnh áo cũ, mảnh khăn, mảnh tã, đặt lên quầy trước mặt hắn, rồi đứng thành hàng chờ.
"Cái này là gì?"
Hắn sờ, không lâu, hai ngón tay vê mép vải một lượt.
"Vải thô dệt ở trấn, giặt hơn hai mươi lần, có một chỗ vá bằng chỉ khác màu."
Chúng quay sang ta, vì ta là người có mắt đứng gần nhất.
"Chỗ vá màu nâu, chỉ thô, khâu tay trái."
Cả hàng reo lên như thắng một ván cờ.
Lão Đằng định đuổi, hắn giơ tay.
"Để chúng chơi. Chơi xong nương chúng vào mua."
Đến mảnh của con bé nhà bán dầu, tay hắn dừng lâu hơn.
"Lụa. Lụa Hàng Châu thật. Nhà ngươi có cái này?"
"Của nương. Khăn cưới. Nương bảo hỏng rồi, không đeo nữa."
Ta cầm lên xem, khăn thêu đôi uyên ương, một con mất mỏ, chỉ tuột một mảng bằng đầu ngón tay.
"Mỏ thì ta thêu lại được."
Hắn quay mặt về phía ta.
"Nàng thêu lại được thì nói giá."
"Hai văn một cái mỏ."
"Ba văn. Hai văn thì cả phố mang khăn hỏng đến, nàng thêu không hết."
Con bé chạy về, chiều ấy nương nó đến, mang cái khăn và ba văn, đứng chờ ta thêu mỏ cho con uyên ương ngay trên quầy.
Hôm sau có hai người mang khăn hỏng đến.
Hôm sau nữa có năm.
Lão Đằng phải kê thêm một cái bàn nhỏ ở góc hiệu, đặt khung thêu, và từ đó hiệu Tiết Ký có hai thứ để bán: vải của hắn, và tay của ta.
Trò đố vải thì vẫn chơi mỗi chiều. Hắn đoán sai đúng một lần, mảnh gấm cũ của một bà lão, hắn bảo Hàng Châu, bà lão bảo Tô Châu, hắn nhận sai ngay.
"Mù thì có lúc sờ nhầm."
"Sáng mắt như già này còn đi nhầm cửa nhà mình. Công tử nhầm một lần là ít."
7
Mẹ chồng ta gọi ta lên gian giữa vào ngày thứ hai mươi.
Bà đặt cuốn sổ hiệu lên bàn, mở đúng trang, đẩy về phía ta, để ta thấy con số bán ra gấp đôi tháng trước.
"Con thấy gì?"
"Con thấy bán được."
"Bán được vì cả trấn kéo đến xem con trai ta đeo mắt giả. Con có thấy nhà này thành trò cười không?"
Ta nhìn con số, rồi nhìn bà, rồi nói thật, vì nói dối với người đang cầm sổ thì không có ích.
"Có. Nhưng cười thì vào hiệu. Vào hiệu thì mua. Mua thì trong sổ có số. Cười không ở lại, số thì ở lại."
Bà đóng sổ bằng hai tay, như đóng một cái nắp hòm, rồi nhìn ta lâu hơn mọi lần, nhìn đúng vào bên trái mặt ta, không tránh.
Ta nhận ra bà là người đầu tiên ở nhà này nhìn thẳng vào chỗ ấy mà không phải để chê.
"Còn bảy mươi ngày."
"Vâng, con biết rồi."
"Nhà Cung hỏi ta ngày nào mở băng. Ta đã nói."
"Vâng."
Bà không đuổi ta ra, nhưng cũng không nói thêm, nên ta đứng thêm một lúc rồi tự đi.
Tối ấy, thắt nút xong, ta thêu thêm một mũi chỉ đỏ ở mép dải băng, chỗ sát tai trái hắn, nơi không ai nhìn.
Ta thêu như thế từ đêm cưới, mỗi tối một mũi, nhỏ như hạt vừng, xếp một hàng, tối ấy là mũi thứ hai mươi.
Hắn không biết, vì hắn không sờ đến chỗ ấy, mà ta không kể, vì đây là chuyện duy nhất ta giữ cho mình.
8
Nương ta đến thăm vào ngày thứ hai mươi lăm, mang theo một giỏ bánh nếp và cái nhìn của người đến kiểm kho.
Nương đứng ở cửa hiệu, thấy ta đứng bên phải quầy, mặt để trần, khách qua lại nhìn ta như nhìn cái biển hiệu, thì tay nương siết quai giỏ.
Ta dẫn nương vào gian sau, rót nước.
"Che mặt đi con."
"Người ta nhìn quen rồi."
"Quen với nhà người mù thì được gì."
Ta nghĩ một lúc, vì câu này nương hỏi thật, không phải hỏi để mắng.
"Được là người ta nhìn ta bằng cả mặt. Ở ngõ nhà mình, người ta chỉ nhìn nửa mặt bên phải, còn nửa kia thì tránh. Ở đây không ai tránh nữa, vì tránh thì không xem được mắt thêu."
Nương ta không hiểu, nương ta chỉ thấy con gái mình đứng giữa phố với vết sẹo không che.
"Chín mươi ngày rồi về."
"Vâng, chín mươi ngày."
"Về rồi thì che."
Ta không trả lời câu ấy, vì ta chưa biết, và điều gì chưa biết thì ta không hứa.
Lúc nương ta ra về, hắn đang ở quầy, nghe tiếng chân thì đứng dậy.
"Nhạc mẫu về đấy à?"
Nương ta lúng túng, vì chưa ai gọi nương như thế.
Hắn đưa tay về bên phải, ta đặt cổ tay vào, hắn dắt ta đến kệ trong cùng, chỗ xếp ba mươi cây vải pha gã Vạn để lại, không dám chở về vì sợ cả phố ngửi.
Hắn rút một cây, đưa về phía tiếng nương ta.
"Lụa này pha. Bán không được. Mặc thì ấm. Mùa đông tới, nhạc mẫu đừng để lạnh."
Nương ta ôm cây vải, ôm cái giỏ rỗng, đứng một lúc, rồi nói một câu ta chưa nghe bao giờ.
"Công tử tử tế."
"Con là con rể.