Sáu Cô Dâu Trước Đều Trốn Trong Đêm Tân Hôn

CHƯƠNG 3



Tay ta run lên. Nếu tấm khăn này là của A Tịnh gửi, thì nàng còn sống. Người còn sống thì không ai phải đào sân, không ai phải lên huyện, không ai bị gọi là đồ giết vợ nữa.

Lúc gấp khăn lại, ta khựng thêm một nhịp. Lối khâu viền mép khăn này trông quen quen, như lối khâu của mấy sạp chàm chợ ta ngày trước. Cả tấm khăn cũ trong tủ cũng viền kiểu ấy.

Nhưng đầu ta lúc đó đầy những bảy ngày với sáu cái gò, nên cái quen quen ấy trôi tuột đi mất.

9

Chiều hôm ấy, ngoài cổng lại ồn.

Nhà bên mất một con dao bầu, xúm lại đổ cho A Toại. Lý lẽ của họ gọn lắm: nó ở nhà lò mổ, nhà ấy lắm dao, ắt là quen tay.

A Toại đứng giữa vòng người, mặt trắng bệch, càng cãi càng lắp bắp.

Bà nhà bên chống nạnh, nói như đinh đóng cột: "Không nó thì còn ai vào đây? Cả cái ngõ này có mỗi nhà ấy là sẵn dao!"

Ta bước ra, đứng chắn trước mặt nó.

"Nhà ta sẵn dao thật. Bà muốn xem thì vào mà đếm, ba mươi bảy con, thiếu một con ta đền bà mười con."

Bà ta há miệng: "Ta... ta việc gì phải vào cái nhà ấy mà đếm!"

"Không dám vào mà dám kết tội. Hay nhỉ." Ta hỏi tiếp.

"Ai thấy nó cầm dao nhà các người? Ai thấy, giơ tay lên."

Không ai giơ.

"Không ai thấy, mà cả chục cái miệng dám gọi một đứa trẻ là quân ăn cắp." Ta nhìn quanh một lượt. "Ở trấn này, cứ ở nhà lò mổ là thành kẻ trộm, cứ họ Sầm là thành kẻ giết người. Chưa thấy tận mắt, thì chưa được gọi là biết. Miệng người lớn cả, để dành nói chuyện có chứng có cớ."

Đám người lầm bầm giải tán. Vừa đi vừa ngoái lại nhìn ta, cái nhìn nửa nể nửa hậm hực của người bị lấy mất một chuyện để kể. Đến tối, con dao bầu tìm thấy dưới gầm phản nhà mất dao, do chính con họ làm rớt.

Không ai sang nói lại một câu. Chỉ có A Toại, tối ấy rình lúc ta vo gạo, đứng tần ngần ở cửa bếp mãi mới nói được một câu: "Phu nhân, mai con gánh nước đổ đầy lu cho người ạ." Nói xong chạy biến.

Ta quay vào thì thấy hắn đứng ngay trong hiên, không biết đứng nghe từ lúc nào. Ánh mắt hắn lúc ấy lạ lắm, như người đi giữa mưa lâu năm, lần đầu có kẻ chìa cho cái nón.

10

Tối, ta trải tấm khăn mới lên bàn, đặt cuốn sổ bên cạnh.

"Ta đi Ô Khê. Tìm A Tịnh, đưa nàng về gặp mẹ, chuyện bảy ngày coi như xong."

"Không."

"Không là không thế nào?" Ta gõ ngón tay xuống bàn. "Ngươi tính đứng yên cho người ta đào sân à? Đào không thấy xác thì thôi chắc? Lão Cống cần gì xác, lão chỉ cần cả trấn tin là có xác."

Hắn im.

"Mà ta hỏi thật." Ta nhìn thẳng vào mặt hắn. "Lão Cống được cái gì trong chuyện này? Sáu năm nay lão rêu rao ngươi giết vợ, mà sáu năm nay lão có sang đòi ngươi văn nào đâu. Sao đợi đến bây giờ mới dắt bà cụ ấy đến quỳ trước cổng nhà ngươi?"

Cái giẻ lau dao dừng lại giữa chừng.

"Lão hỏi mua cái lò. Ba lần."

"Ngươi không bán."

"Không bán." Hắn nhìn lên hàng dao treo trên vách. "Lần thứ ba là tháng trước."

Ta ngồi thẳng người lên. Thì ra cái hạn bảy ngày kia không mọc ra từ nước mắt bà lão ngoài cổng. Nó mọc ra từ tháng trước, trong một cuộc mặc cả không thành, giữa hai người đàn ông chẳng ai khóc câu nào.

"Vậy thì càng phải đi," ta nói tiếp, chậm từng chữ. "Ngươi thì không đi được. Ngươi vừa rời trấn nửa bước, cả chợ sẽ hô đồ giết vợ chạy tội, quan chưa xử ngươi đã thành án. Còn ta đi thì khác. Thợ nhuộm đi bến Ô Khê mua phèn, thuận đường bán ít thuốc nhuộm dạo, ai hỏi cũng xuôi."

Hắn nhìn ta rất lâu. Cái nhìn của người đang cân một thứ nặng hơn bạc.

"Đường sông một ngày, đường bộ ngày rưỡi," cuối cùng hắn nói. "Đi đường bộ. Đường sông mùa này người của lão Cống chạy thuyền."

Ta gật. Thế là xong nửa kèo.

Nửa kèo còn lại bàn đến tận khuya. Ta sẽ quẩy đôi bồ của nhà, một bên chai lọ thuốc nhuộm, một bên phèn cục với vải mẫu, đi dạng thợ nhuộm dạo xuống bến mua phèn. Hắn vẽ đường lên mặt bàn bằng ngón tay chấm nước.

"Qua bến Cây Hoè. Tránh quán trọ ngã ba, chủ quán mắc nợ lão Cống. Ngủ nhờ miếu thổ địa cho lành."

"Bốn ngày," hắn nói. "Quá bốn ngày mà nàng không về, ta đi tìm."

"Ngươi vừa bảo ngươi không rời trấn được."

"Ừ. Nhưng quá bốn ngày thì khác."

Ta hiểu cái khác ấy. Quá bốn ngày mà ta không về, nghĩa là ta gặp chuyện. Mà ta gặp chuyện, thì hắn không thiết cái tiếng sạch kia nữa.

Hắn đứng dậy đi vào buồng, lục rương rất lâu. Ta tưởng đi lấy bạc lộ phí.

Hắn lấy ra một thứ còn nặng hơn bạc.

11

Trên bàn là một phong thư cũ, giấy đã ngả vàng, niêm bằng một giọt sáp thô.

Ngoài bì không đề gì, chỉ có một chữ Tịnh nắn nót.

"Trả tận tay. Người khác, không cần."

Ta cầm phong thư, tự dưng thấy tay mình nặng. Ta chưa biết trong thư viết gì, nhưng ta biết một điều: thứ này mà là giấy vô dụng, người ta đã chẳng khoá đáy rương sáu năm.

"Trong rương còn mấy phong nữa?" ta hỏi.

"Còn năm phong nữa."

"Sao không đưa ta cả sáu? Đi một chuyến, gặp được ai ta trả người nấy, chẳng phải gọn hơn à?"

"Không gặp được đâu. Năm người kia, ta cũng chỉ biết họ đi về hướng nào." Hắn gõ ngón tay lên chữ Tịnh ngoài bì. "Chỉ người này năm nào cũng gửi quà về. Chỉ người này tìm được."

Ta hiểu ra. Không phải hắn tin ta chưa đủ. Là hắn tính đủ.

Đường xa, giấy trắng mực đen mang theo người, mất một tờ là mất một mạng người làm chứng. Mang đúng một tờ có chỗ trả, số còn lại nằm im dưới đáy rương giữ mạng cho chủ nhà.

"Trong này viết gì?"

"Nàng cứ đọc thì biết."

"Thư người ta gửi ngươi, ta đọc sao tiện."

Hắn nhìn ta, lần đầu tiên khoé miệng hơi nhếch, như muốn cười mà quên mất cách. "Thư không phải gửi ta. Là gửi lại cho ta giữ."

Câu ấy ta nghe không hiểu. Nhưng canh giờ gà gáy sắp điểm, đôi bồ đã xếp xong, ta giắt phong thư vào áo trong, sát ngực.

Chương trước Chương tiếp
Loading...