Sáu Cô Dâu Trước Đều Trốn Trong Đêm Tân Hôn

CHƯƠNG 4



Hắn tiễn ta ra cổng sau. Trời còn tối, sương xuống lạnh.

Rồi đứng lại ở cái cửa không khoá ấy, nhìn ta quẩy bồ đi, không nói câu nào.

Đi được một quãng ta ngoái lại. Hắn vẫn đứng đó, to sừng sững như cái cột nhà, giữa cái cổng mà sáu người đàn bà đã bước qua để đi mất.

Ta là người đầu tiên bước qua cổng ấy mà hẹn ngày về.

12

Đường bộ ngày rưỡi, ta đi mất gần hai ngày, vì cái phong thư trong áo cứ cộm lên như hòn than.

Đêm ngủ nhờ miếu thổ địa, ta thắp đèn, cuối cùng vẫn mở thư ra đọc. Ta tự nhủ, đến nơi lỡ thư có chữ gì gấp, ta phải biết trước mà liệu.

Chữ trong thư to, vụng, chỗ đậm chỗ nhạt, là chữ của người mới học viết.

Ta là Vương A Tịnh, tự tay viết mấy dòng này. Ta tự đi, không ai ép, không ai hại. Sầm đại ca cho ta bạc, mở cửa sau cho ta.

Ngày nào ta sống cho ra người, thì tiền này khỏi trả. Ai cầm thư này hỏi tội Sầm đại ca, là hỏi oan người tốt.

Cuối thư điểm một dấu tay son đỏ, đã sậm màu.

Ta ngồi thẫn thờ trước ngọn đèn dầu leo lét. Thì ra cuốn sổ sáu dòng không phải sổ đòi nợ. Thì ra sáu cái tên kia, tên nào cũng kèm một lá thư như thế này, khoá dưới đáy rương.

Hắn giữ chúng không phải để nhớ ơn hay kể công. Giữ chúng phòng cái ngày hôm nay: ngày có người đập cổng đòi xương, hắn có sáu tờ giấy chứng minh sáu người đàn bà tự đi.

Vậy mà bảy ngày sắp cạn, sáu tờ giấy ấy vẫn nằm im. Vì lôi ra, tức là nói cho cả trấn biết những người đàn bà ấy còn sống, đang trốn. Nhà nào như nhà lão Cống mà biết con nợ còn sống, thì cái khổ cũ lại tìm đến tận cửa.

Sáu tờ giấy cứu được mạng hắn. Mà hắn chọn ôm tiếng giết vợ, để sáu tờ giấy ngủ yên.

Ta gấp thư lại, nhét vào áo. Đêm ấy trong miếu gió lùa, ta nằm nghĩ mãi một chuyện: người như thế, mà cả trấn chỉ nhìn thấy cái tay dính tiết heo.

13

Ở trấn, ta vừa đi được hai hôm thì tin đồn đã sôi lên: cô dâu thứ bảy nhà lò mổ mất tích rồi.

Lão Cống chống gậy ra giữa chợ, dõng dạc: "Bảy ngày là ta nhân nhượng lắm rồi. Giờ thêm một mạng nữa, còn chờ gì? Ngày kia, đào!"

14

Ta đến bến Ô Khê lúc chiều muộn ngày thứ bảy, xin ngủ nhờ hiên một nhà bán phèn, chờ sáng hôm sau chợ họp.

Sáng ngày thứ tám, bến Ô Khê họp chợ ven sông, thuyền đậu san sát, mùi phèn chua nồng cả một khúc nước.

Ta quẩy bồ đi dọc dãy sạp, hỏi mua phèn cục. Hỏi đến sạp thứ ba thì ta đổi cách: ta mở gói vải mẫu, lấy tấm khăn chàm xám ra, đặt lên mặt sạp.

"Bà xem hộ ta màu này. Nhuộm khéo thật, ta muốn đặt một mẻ về bán mà chẳng biết hỏi ai."

Bà chủ sạp liếc tấm khăn một cái là cười: "Màu này ở bến cũng dăm nhà làm, mà lên được đến nước này thì đúng một tay thôi. Nhà A Tịnh ở xóm chài cuối bến, chồng chèo thuyền, vợ nhuộm thuê. Cô nương cứ ra hỏi, con bé khéo lắm."

Bà còn dặn với theo, giọng quen miệng của người bán hàng: "Mà con bé ấy lạ lắm. Sáu năm ở bến này, chưa từng thấy về quê một bận nào. Hỏi quê đâu thì chỉ cười. Người hiền thế mà kín như bưng."

Sáu năm không về quê. Ta cúi đầu cảm ơn, quẩy bồ đi mà từng bước một nặng thêm.

Chân ta bước mà tim đập thình thịch. Xóm chài cuối bến toàn lều tranh dựng sát mép nước, trẻ con chạy chân đất, chó sủa từng chặp. Chẳng ai buồn nhìn một người đàn bà quẩy bồ thuốc nhuộm.

Nhà cuối bến là một túp lều gọn ghẽ, phên giậu buộc lạt mới. Ngoài sân, một người đàn bà đang phơi vải chàm, tay cũng xanh như tay ta. Một đứa nhỏ chừng ba tuổi lẫm chẫm ôm chân mẹ.

Ta chưa kịp chào, người đàn bà quay lại. Bốn mắt nhìn nhau, tay nàng buông rơi cả nẹp tre phơi vải.

Không phải vì nhận ra ta. Đời này nàng chưa gặp ta bao giờ.

Nàng nhận ra tấm khăn ta cầm trên tay. Và cái dáng đàn bà tay xanh, quẩy bồ thuốc nhuộm, tìm đến tận cửa.

"Nhà ngươi..." giọng nàng khô khốc, "từ Tang Du đến phải không?"

15

Trong lều, A Tịnh rót nước mời ta mà tay run làm sánh cả ra ngoài.

Ta kể hết. Mẹ nàng quỳ trước cổng lò mổ đòi xương. Lão Cống hẹn bảy ngày. Cái sân sắp bị đào. Ta đặt phong thư xuống chiếu, đẩy về phía nàng: "Thư của ngươi, ta trả tận tay. Người giữ nó sáu năm, hai hôm nữa sẽ bị cả trấn buộc tội giết ngươi."

A Tịnh cầm lá thư, nước mắt rơi lã chã, mà đầu vẫn lắc.

"Ta không về được. Ngươi không biết lão Cống đâu. Nhà ta nợ lão tám lượng, lãi mẹ đẻ lãi con. Ta mà ló mặt về, món nợ ấy sống lại, nương ta lại khổ, chồng con ta cũng không yên. Ta chết đi, ít ra nợ chết theo."

"Ngươi chết đi," ta nói chậm, "thì người mở cửa sau cho ngươi sẽ chết thay. Không phải chết miệng tiếng nữa, mà chết trước công đường."

Nàng ôm mặt, người gập xuống như tàu chuối gãy. Một lúc lâu, nàng buông tay, kể bằng cái giọng của người kể lại giấc chiêm bao:

"Đêm ấy ta quỳ xuống lạy, hỏi vì sao lại thả ta đi. Bạc đâu ra mà cho ta. Người ấy đứng quay lưng, chỉ nói đúng một câu."

Nàng ngừng một nhịp, rồi nhại lại, cả giọng lẫn cách nhả chữ cụt lủn ấy.

"Tỷ ta ngày trước, không có cửa sau để trốn."

Ta điếng người. Câu ấy như con dao rạch một đường vào tấm màn mà ta mò mẫm bấy lâu.

Chị ta. Hắn có một người chị. Người chị ấy đã từng cần một cái cửa sau, mà không có.

Đúng lúc ấy, đứa nhỏ lẫm chẫm bò lên chiếu, kéo tay mẹ nó, hỏi bằng cái giọng líu ríu:

"Nương ơi, sao con không có bà? Bà của con đâu?"

A Tịnh sững người. Rồi nàng ôm chầm lấy con, khóc oà lên, khóc như vỡ đê.

Khóc xong, nàng lau mặt, đứng dậy: "Chờ ta xếp tay nải. Cho con bé theo. Nó phải biết mặt bà nó."

16

Đường bộ ngày rưỡi, giờ không còn ngày rưỡi để đi.

Chồng A Tịnh nghe chuyện xong, không nói hai lời, tháo thuyền ra khỏi bến ngay trong đêm.

Chương trước Chương tiếp
Loading...