Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và
Mở Ứng Dụng Shopee để mở khóa toàn bộ chương truyện!
Lưu ý: Quảng Cáo trên chỉ xuất hiện 1 lần trong ngày, mong Quý độc giả ủng hộ.
TÌNH VĂN xin cảm ơn!
Thêu Phượng Thành Gà
CHƯƠNG 5
Án chưa xong, trượt cũng không ai thả."
Từ hôm ấy, hai đứa đi dạo vườn mỗi chiều. Đông Nhi xách giỏ giả vờ hái hoa cúng, ta đi cạnh, mũi không lúc nào nghỉ. Cung ty trà nằm cạnh dãy bếp, gió chiều thổi từ hướng ấy sang, ta cứ men theo chiều gió mà khịt.
"Tú nữ đánh hơi kiểu này, giống..." Đông Nhi ngập ngừng.
"Giống chó săn chứ gì. Nói đi, ta không giận."
"Nô tỳ định nói giống thái y bắt mạch bằng mũi."
"Miệng ngươi khéo thế, sau này làm đến chưởng sự."
"Nô tỳ không dám. Chưởng sự bây giờ nghe đâu sắp mất đầu."
"Thế mới có ghế trống chứ."
Hai đứa vừa dạo vừa đùa cho đỡ run, chứ thật ra đứa nào cũng biết mình đang đùa với thứ gì.
Ba ngày đầu, chỉ toàn mùi bếp, mùi khói, mùi hoa quế. Đến chiều thứ tư, gió đổi hướng, từ dãy sau cung ty trà thoảng lên đúng sợi mùi ấy. Ngòn ngọt, đăng đắng, mỏng như tơ.
Ta đứng lại giữa lối đi, cúi xuống giả vờ sửa giày, hít thật chậm ba hơi.
Không lẫn được. Hạnh đắng, ngâm lâu ngày, và rất gần.
"Đông Nhi. Dãy sau cung ty trà là chỗ nào?"
"Kho trà cống, thưa tú nữ. Trà dâng ngự tiền đều niêm ở đấy." Nó nói xong, mặt trắng bệch. "Tú nữ đừng bảo là muốn..."
"Ừ. Đúng cái ngươi đang nghĩ đấy."
20
Đêm ấy không trăng, hai đứa nép sau dãy vại nước, chờ đến giờ đổi phiên tuần.
Kho trà cống then ngoài nhưng cửa ngách phía sau chỉ cài chốt gỗ, Đông Nhi lách tay tháo được. Nó ở ngoài canh, ta cầm mẩu nến lách vào.
Trong kho tối như đáy giếng, mùi trà cống đặc đến nghẹt thở. Ta nhắm mắt, để cái mũi dẫn đường. Qua ba dãy vại, sợi mùi hạnh mỗi lúc một rõ, đến dãy trong cùng thì rõ như có người cầm hũ dí vào mặt.
Sau hai cái vại trà lớn nhất, có một hũ sành nhỏ, miệng bịt vải dầu, giấu trong hốc tường. Ta mở ra. Khổ hạnh nhân ngâm nước, nổi lều bều, cạnh hũ còn một cái phễu đồng bé xíu, thứ dùng để châm từng giọt.
Tay ta run lên. Không phải vì sợ. Vì nghĩ đến chén trà mỗi ngày đều đặn đi từ cái hũ này lên án ngự, đi suốt bao lâu rồi không ai biết.
Ta nhón ba hạt hạnh bỏ vào tay áo làm chứng, đậy hũ lại y nguyên.
Vừa lách ra đến cửa ngách, ngoài sân có ánh đèn lồng quét tới, kèm tiếng chân. Đông Nhi kéo ta sụp xuống sau vại nước.
Ánh đèn dừng ngay trước cửa kho. Là Tần chưởng sự đi tuần đêm, một mình, không cầm sổ, không gọi ai.
Lão đứng trước cửa kho rất lâu. Rồi lão vòng ra phía cửa ngách.
Tim ta rơi xuống tận gót chân. Chốt gỗ, ban nãy Đông Nhi cài lại chưa? Ta không dám quay sang hỏi, chỉ thấy tay nó bấu vào tay ta, lạnh ngắt.
Tiếng lão lay chốt, một tiếng, hai tiếng. Chốt nằm im.
Đèn lồng lượn thêm một vòng rồi xa dần. Hai đứa ngồi sau vại nước đến khi chân tê dại mới dám bò ra.
Về đến phòng, Đông Nhi oà lên khóc rưng rức, còn ta ngồi thở, ba hạt hạnh trong tay áo nặng như ba hòn đá.
21
Tự đi tố thì không được. Tú nữ ban đêm lẻn vào kho trà cống, chưa kịp kể tội người đã mang tội mình.
Ta thắp đèn, căng khăn con gà lên khung, dùng chỉ mười hai sắc được ban. Góc khăn thêu thêm một cái vại, cạnh vại một cành hạnh ba hạt, dưới chân gà một mũi kim đỏ trỏ về cái vại.
Sáng sau, ta nhờ Lương công công dâng khăn, kèm một câu: "Dân nữ xin trả quý nhân món nợ chỉ thêu. Con gà này, xin quý nhân xem cho kỹ."
22
Hai hôm sau, giữa ban ngày, cấm quân ập vào cung ty trà.
Ta không được xem, chỉ nghe Đông Nhi chạy về kể từng hồi, mặt nó vừa sợ vừa hả hê. Hũ sành sau vại bị khui ra giữa sân, phễu đồng đặt cạnh, ai đi qua cũng thấy.
Tần chưởng sự bị dẫn đi, mũ rơi, tóc xoã, miệng vẫn kêu oan. Kêu cho đến khi người ta lôi từ phòng lão ra một tráp thư từ qua lại với người ngoài cung, có cả ngân phiếu.
Kêu oan đến đấy thì tắt.
Nghe nói ngài không thăng điện xử, không tra giữa sân, chỉ phán đúng một câu, giao hết người và tang vật cho hình bộ. Cung ty trà thay chưởng sự mới ngay hôm ấy, trà dâng ngự tiền đổi hẳn lối niêm phong, ba lớp dấu.
Đông Nhi kể xong còn nói thêm một câu rất nó: "Từ nay chắc không ai dám chê cái mũi của tú nữ nữa."
Chiều, Lương công công đến truyền: bệ hạ triệu. Lần này lão đi trước dẫn đường, thái độ cung kính hơn hẳn mọi bận, làm ta càng đi càng chột dạ.
Ngự thư phòng hôm ấy mở cửa sổ, nắng vào đầy án. Ta quỳ hành lễ, ngẩng lên, thấy trên án đặt chiếc khăn con gà của ta, được vuốt phẳng phiu.
Cạnh khăn là một tập hồ sơ đang mở.
Ta không cố ý nhìn, nhưng trang giấy mở đúng chỗ, chữ to rõ ràng: "Tống Tiểu Mãn, thôn Mai Khê, nhà ba đời chế trà. Cô nhi, nương tựa tổ mẫu. Tổ mẫu Tống thị, mắt loà sáu năm."
Bên mép trang, có một hàng chu phê nhỏ, mực son đã sẫm màu, không phải mới viết.
"Giữ lại."
Dưới hai chữ ấy đề ngày. Ta nhẩm tính, và tim ta hụt một nhịp.
Là ngày duyệt đồ thêu. Ngày con gà của ta đậu vòng hai.
23
"Nhìn thấy rồi?"
Ngài hỏi, giọng bình thản như hỏi trà đã nguội chưa. Ta quỳ đó, bao nhiêu chữ nghĩa học được trong cung ba tháng bay sạch, chỉ còn lại cái thật.
"Bệ hạ biết chuyện tổ mẫu của dân nữ... từ vòng hai?"
"Từ trước cả đêm ở vườn. Hồ sơ tú nữ nào trẫm chẳng xem." Ngài đứng dậy, đi vòng qua án, dừng trước mặt ta. "Đêm ấy ở vườn, trẫm chỉ đi dạo. Nghe được mấy câu, mới biết hồ sơ nói không đủ."
"Vậy sao ngài còn... hai chữ kia..."
"Vì sao à." Ngài cầm chiếc khăn con gà lên, ngón tay lướt qua cái mào đỏ. "Tống Tiểu Mãn, ngươi biết mỗi ngày trẫm nghe bao nhiêu câu nói không? Câu nào cũng tròn, cũng đẹp, cũng được gọt sẵn trước khi đến tai trẫm. Gọt đến mức trẫm quên mất lời người ta nói thật nghe ra sao."
Ngài đặt khăn xuống, nhìn thẳng vào mắt ta.
"Rồi có một đứa vẽ mày sâu róm để trượt. Thêu phượng thành gà để trượt.