Vua Chỉ Được Ăn Ba Gắp, Nàng Dọn Một Món Thành Ba Đĩa
CHƯƠNG 2
"Cải trong cung lá dày hơn cải chợ. Mai xuống sớm nửa canh giờ. Đứa nào tay còn run trước nồi nước sôi thì đứng xa ra."
Ta biết thế là ông gật.
A Điềm líu ríu hỏi chín gắp là thế nào, có phải từ mai được nấu nhiều gấp ba không, muội rửa cải ba rổ thì có được thưởng không. Ông quát nó vo gạo đi. Nó vo gạo, miệng vẫn cười.
5
Trưa hôm sau, bàn ngự có ba món mới. Thực đơn ghi ba dòng, chữ nắn nót: cải chần tương gừng, canh gừng thả cải, cải xào rắc gừng.
Ba món đựng trong ba cái đĩa sâu lòng cùng một bộ. Trong đó có một cái mẻ một miếng ở vành, đồ đáng loại từ đời nào, lão Bạch tiếc tay giữ lại dùng tạm, dặn ta bưng khéo che cái vành mẻ vào phía trong.
Ta bưng khay lên, tim đập như trống. Đặt từng đĩa xuống, lui về chỗ đứng, mắt nhìn đũa.
Gắp thứ nhất, đĩa cải chần. Gắp thứ hai. Gắp thứ ba.
Ta bước lên dọn đĩa đi, tay không run.
Đũa vua sang bát canh gừng. Một, hai, ba.
Rồi đĩa cải xào. Một, hai, ba.
Chín gắp. Vua ăn không nói một lời, mặt không đổi, như thể trên bàn chưa từng có chuyện gì.
Đứng hầu bên bàn ngự có bốn người: hai thái giám truyền món, một nữ quan ghi ngự chú, và ta. Ba người kia mắt nhìn thẳng, mặt như tượng.
Chỉ mình ta đếm. Nên chỉ mình ta biết hôm ấy trên bàn vừa xảy ra một chuyện to bằng trời.
Chỉ có một điều lạ.
Đĩa nào vua cũng dừng đũa khi trong đĩa còn lại đúng một gắp.
Cải chần còn một nhúm. Canh còn một muôi. Cải xào còn một đũa.
Như thể ăn đến đâu cũng phải chừa lại một góc. Ta không hiểu. Nhưng nghề của ta là đếm, không phải hiểu, nên ta ghi bụng rồi bưng khay xuống.
Dưới bếp, lão Bạch đón cái khay, nhìn ba cái đĩa vơi quá nửa, nhìn rất lâu.
"Chín gắp," ta nói.
Ông không đáp. Nhưng chiều hôm ấy cả dãy bếp nghe tiếng ông chê món vịt hầm của chính mình là nêm vụng, giọng to và sảng khoái như người vừa trúng chợ phiên.
A Điềm thì thầm với ta, từ ngày muội vào cung, đây là lần đầu nghe ông chê món mà cứ như đang khen.
6
Từ hôm ấy, trò ba đĩa thành lệ ngầm của dãy bếp.
Và ông già đứng bếp, hai mươi năm chỉ biết mài dao, bỗng dưng đổ bệnh chữ nghĩa.
"Cải chần tương gừng, nghe cộc quá." Ông vừa thái vừa lẩm bẩm. "Đổi. Ngọc diệp trầm giang. Lá ngọc chìm sông. Được không?"
"Không được," ta nói. "Thực đơn ghi thế, quan duyệt đọc không hiểu là món gì, cho gọi xuống hỏi thì chết cả lũ."
"Thế thì tuyết áo thanh chi."
"Cũng không."
Ông tiu nghỉu như trẻ con bị tịch thu quà. Hôm sau ông nghĩ ra ba tên mới, hôm sau nữa lại ba tên khác.
A Điềm học lỏm được, rửa rau cũng đặt tên. Nó gọi rổ cải là thuý vũ, gọi gừng là kim ti, gọi nồi nước sôi là biển lửa, bị bà quản sự cốc cho một cái vào đầu.
"Cái ty này loạn rồi," bà than. "Trước kia cả dãy không ai hé răng, giờ ngày nào cũng nghe thơ."
Than thì than, hôm sau chính bà góp một tên. Canh gừng thả cải, bà đòi đổi thành canh ấm dạ.
Ông chê quê. Bà giận. Hai người cãi nhau về chữ mất nửa buổi, quên cả giờ nhóm lò, suýt trễ bữa chiều, cuối cùng món vẫn giữ tên cũ mà hai người ba ngày không nhìn mặt nhau.
Đến người đưa than qua dãy cũng biết chuyện, thò đầu vào góp một tên, gọi món cải xào là thuý y tiểu thư, bị ông cầm muôi đuổi ra tận cổng.
A Điềm ôm rổ cải cười gập cả người, bảo ông đuổi người ta mà chân đi thì chậm, tay vung muôi mà cái muôi thì sạch bóng, đuổi kiểu ấy ai mà sợ.
Ta đứng giữa, vừa buồn cười vừa nghĩ, cái món canh này chưa nuôi ai no, mà nuôi vui cả một dãy bếp.
7
Bữa tối ngày thứ ba, đũa vua dừng trên đĩa cải xào, không gắp.
"Món này tên gì."
Ta cúi đầu, bịa liều. "Bẩm, thanh chi tam sắc."
"Ừ."
Chỉ thế. Đũa lại đi.
Nhưng lúc bưng khay xuống, chân ta nhẹ mà tim thì nặng, không hiểu vì đâu.
8
Ngày thứ tư, suýt vỡ chuyện.
A Điềm đi lĩnh than, gặp con bé ty giặt là bạn nó, hớn hở khoe dãy bếp nhà muội dạo này vui lắm, ngày nào cũng nghĩ tên món mới, một món mà thành ba...
May cho nó, ta đi ngang đúng lúc.
Ta kéo nó về. Dọc đường nó vẫn chưa hiểu mình sai chỗ nào.
"Tỷ, muội có nói gì đâu. Muội mới kể được một nửa."
"Một nửa cũng là kể." Ta đứng lại, nhìn thẳng vào mắt nó. "Muội còn nhớ lệ hôm vào ty không? Việc trong ty thiện, ra khỏi cửa ty là câm. Ăn cơm của bếp thì giữ miệng cho bếp."
"Nhưng có phải chuyện xấu đâu ạ..."
"Chuyện tốt mới càng phải giữ." Ta nói. "Chuyện xấu tự nó có chân, không cần ai khoe."
"Sao chuyện tốt lại phải giữ hả tỷ?"
"Vì chuyện tốt trong cung này hiếm. Cái gì hiếm là có giá. Cái gì có giá là có kẻ muốn lấy." Ta nói xong tự thấy mình già đi mười tuổi. "Muội cứ nhớ thế đã. Lớn thêm vài năm khắc hiểu."
Nó ngẫm một lúc, rồi ngoéo tay ta.
"Dạ. Muội câm."
Rồi nó hỏi nhỏ, thế lỡ con bé kia đem kể tiếp thì sao.
"Kể gì? Muội mới nói dãy bếp vui. Cung này dãy nào chẳng có lúc vui." Ta búng trán nó. "Nhưng từ mai, việc lĩnh than để tỷ đi."
Tối ấy ta nằm nghĩ mãi. Không phải ta sợ cái lệ.
Ta sợ một điều chưa gọi được tên: trò ba đĩa này, càng ít người biết, càng sống lâu. Mà ta thì muốn nó sống lâu.
Muốn cho ông già đứng bếp. Chắc là thế.
9
Ngày thứ năm, ông cho ta học thái gừng.
"Gừng rắc cải xào phải thái sợi. Sợi to thì hăng, sợi nhỏ thì mất mùi. Nhìn đây."
Ta nhìn, rồi cầm dao thái thử. Tay ta đưa dao nghiêng, lát gừng mỏng dán vào nhau, rồi mới xắt sợi, sợi nào cũng cong cong như cái móc câu.
Ông đang quay đi, bỗng đứng sững lại.
"Ai dạy ngươi thái kiểu ấy?"
"Nương ta. Quê ta ai chẳng thái thế. Gừng cong thì giữ nước, bỏ vào chảo mới không khét."
Nói đến nương, tay ta chậm lại nửa nhịp.
Nương ta còn ở quê, một mình một mảnh vườn, mùa nào cũng phơi gừng gửi lên cho ta một bọc.