SAU ĐÊM CẦU HÔN TRÊN BẾN CẢNG
Chương 11
Anh lấy trong túi ra tấm danh thiếp, đặt trên bậu cửa rồi bước lùi dưới mưa.
Tôi bật thêm đèn đọc dòng chữ.
Tạ Hoài Cảnh — kiến trúc sư phụ trách phục hồi thư viện Nam Thành.
Đó là lần đầu tôi gặp anh.
07. Người biết chờ đất khô
Sáng hôm sau Tạ Hoài Cảnh đến đúng chín giờ, đem theo bản vẽ và một tập ảnh hiện trạng. Anh không mang theo hoa hay trái cây để lấy lòng chủ nhà, chỉ xếp giấy lên bàn rồi hỏi tôi có cần đổi sang một buổi khác không.
“Tôi làm được,” tôi nói.
Anh gật đầu. “Vậy chúng ta xem từ phía tường Đông.”
Thư viện Nam Thành xây từ gần bảy mươi năm trước. Những viên gạch trang trí chạy dọc hành lang do xưởng của ông ngoại tôi làm; qua nhiều mùa mưa, men bong từng mảng. Một lần sửa chữa sai cách khiến cả dải họa tiết bị phủ sơn bóng. Mẹ tôi đã nhận lời thử khôi phục một ô nhỏ, nhưng khi bà bệnh nặng, dự án tạm dừng.
“Ông ngoại cô có ký tên ở mặt sau gạch,” Hoài Cảnh nói. “Lúc tháo một viên vỡ, chúng tôi thấy dấu trăng này.”
Anh chỉ vào bức ảnh chụp vết khắc hơi lệch. Không phải nét trăng của mẹ; hồi ấy ông ngoại còn vẽ thêm một ngôi sao nhỏ. Tôi nhận ra ngay.
“Đây là lô nung năm thứ ba của xưởng,” tôi nói. “Mẹ tôi giữ sổ.”
Tôi tìm chiếc hộp giấy cũ trên kệ, rút một quyển sổ đã ố mép. Tạ Hoài Cảnh chờ tôi tự lật trang, không đụng vào đồ của mẹ. Chúng tôi nói về nhiệt độ nung, độ co của đất, màu men trước và sau khi phục chế. Đó là cuộc trò chuyện đầu tiên trong nhiều tuần mà tôi không phải giải thích mình có đáng thương hay không.
Đến trưa, anh gấp bản vẽ lại.
“Cô xem điều kiện sức khỏe trước,” anh nói. “Công việc này cần thời gian. Tôi không cần cô trả lời ngay.”
Tôi bỗng buồn cười. “Sao ai gặp tôi cũng biết tôi đang mang thai?”
Anh nhìn bụng tôi rồi dời mắt rất nhanh. “Tôi xin lỗi. Tôi nghe dì Mẫn dặn không để cô đứng lâu.”
“Tôi hỏi đùa thôi.”
“À.” Anh hơi bối rối, khiến tôi lần đầu tiên trong ngày thấy mình còn khả năng làm người khác bối rối.
Sau khi anh rời đi, dì Mẫn mang cơm vào. Dì đặt thêm một chiếc bát, dù tôi nói Hạ Chi đã ăn rồi.
“Cháu Tạ ấy năm nào cũng về thăm thư viện,” dì kể. “Bà ngoại nó từng làm thủ thư. Khi bà mất, nó nhận thiết kế sửa lại mái. Nói là làm cho người sau còn chỗ đọc sách.”
“Dì đang kể lí lịch anh ta cho con?”
“Dì kể chuyện cái thư viện. Con nghe chệch đi đâu thế?”
Tôi bị dì chọc, cười một tiếng. Lâu lắm rồi tiếng cười mới phát ra mà không mang theo chút vị đắng.
Một tuần tiếp theo, tôi và Hoài Cảnh trao đổi bản vẽ qua email. Anh gửi ảnh các mảng gạch dưới ánh sáng ban ngày, ghi rõ chỗ nứt nào cần giữ, chỗ nào phải gia cố. Có lần tôi trả lời lúc hai giờ sáng, năm phút sau anh nhắn: Ngày mai xem cũng được. Cô nghỉ đi.
Tôi không nhắn tiếp. Sáng ra thấy một file mới: anh đã đánh dấu từng chi tiết để tôi khỏi phải soi ảnh quá lâu.
Một người đàn ông cẩn thận chưa đủ để tôi yêu lần nữa. Tôi biết điều đó hơn ai hết. Nhưng sự cẩn thận không đòi hỏi tôi phải mắc nợ khiến tôi cảm thấy dễ thở.
Trong khi tôi thử mẻ men cho thư viện, tập đoàn Bạch gửi thư phản hồi. Họ xác nhận chiếc đĩa chụp trong quảng bá là một mẫu được “đơn vị hợp tác” đưa đến, đồng thời đề nghị gặp tôi trao đổi quyền sử dụng. Không nói tên người hợp tác.
Gia Nghi nhận định đây là dấu hiệu họ bắt đầu xem yêu cầu của tôi nghiêm túc. Chị bảo nếu tôi đủ khỏe, chúng tôi có thể hẹn một buổi làm việc có ghi biên bản. Tôi đồng ý.
Buổi gặp diễn ra ở Nam Thành vì tôi từ chối đi xa. Phía bên kia đến ba người: đại diện pháp lý, phụ trách thiết kế và chính Bạch Xuân Vi.
Cô ta vừa xuất hiện, dì Mẫn ở sân đã nhìn tôi một cái. Tôi gật đầu, bảo dì vào trong. Đây là xưởng của mẹ. Tôi không muốn ai bị đuổi khỏi nơi này chỉ vì họ có tên trong đời Trần Thụy Thăng.
Bạch Xuân Vi nhìn những chiếc bát đặt trên giá. “Không ngờ xưởng cũ lại đẹp thế này.”
“Tôi cũng không ngờ chiếc đĩa từ văn phòng người khác lại đẹp đến mức được đặt giữa ảnh quảng bá của cô.”
Gia Nghi khẽ chạm vào tay tôi, nhắc tôi giữ bình tĩnh. Chị bắt đầu trao đổi, đưa hồ sơ ảnh, bản vẽ và một danh sách hiện vật tôi đang yêu cầu trả. Phía Bạch nói sẽ xác minh chuỗi bàn giao.