SAU ĐÊM CẦU HÔN TRÊN BẾN CẢNG
Chương 18
“Thời tiết tốt lên rồi,” dì nói. “Mai ta phơi đất.”
Tôi ngẩng nhìn. Mưa đã ngừng thật. Nắng muộn xuyên qua giàn hoa giấy, soi những hạt nước đọng trên lá.
Ngày đó tôi làm được việc đầu tiên mà không nghĩ về Trần Thụy Thăng trong suốt ba giờ: chỉnh từng nét gạch của thư viện để chúng không bị nuốt mất dưới lớp men mới. Khi Hoài Cảnh đến, chúng tôi mang mẫu ra ngoài sáng so sánh. Anh đứng cách tôi một khoảng vừa đủ, chìa ảnh cho tôi xem.
“Đúng màu rồi,” anh nói.
“Tôi còn muốn thử một mẻ. Vết rạn chưa giống.”
“Cô luôn muốn sửa thêm?”
“Trước kia mẹ tôi cũng bảo tôi cầu toàn.”
“Cô ấy có bảo khi nào nên dừng không?”
“Có. Khi chiếc gạch đã đủ bền để người khác bước qua nó mà không phải cúi xuống lo lắng.”
Anh gật. “Vậy ta thử thêm một mẻ.”
Tôi liếc anh. “Anh là bên đặt hàng, anh có thể giục tiến độ.”
“Tôi đã học được rằng giục lò nung chẳng làm nó nóng đều hơn.”
Tôi bật cười. Hoài Cảnh cũng cười, mắt hơi cong lại. Trong nắng muộn, có một khoảnh khắc tôi muốn bước gần anh hơn, rất nhẹ, như người ta thử đưa tay vào nước để biết mùa đã đổi chưa.
Nhưng tôi không làm. Anh dường như cũng hiểu. Chúng tôi tiếp tục xem gạch.
Ba hôm sau, Hạ Chi phải trở về thành phố làm việc. Tôi tiễn cô ra bến xe. Trước khi lên xe, cô ôm tôi, dặn nếu đêm nào buồn thì gọi, nếu đêm nào vui cũng gọi. Tôi bảo còn dì Mẫn ở đây. Cô lắc đầu: “Mình không nhường vị trí bạn thân đâu.”
Xe vừa đi, tôi nhận được email từ một tạp chí thủ công. Họ đã theo dõi xưởng của mẹ nhiều năm, nay muốn phỏng vấn về dự án khôi phục gạch thư viện và triển lãm Trăng Sau Mưa. Đó là lần đầu sau cơn bão dư luận có người tìm tôi vì công việc, không phải vì đứa con trong bụng.
Tôi ngồi bên bến xe, đọc thư mời hai lần. Rồi tôi gọi cho Hạ Chi. Cô ấy vừa yên vị trên xe đã nghe máy.
“Quên dặn gì à?”
“Mình có chuyện vui.”
“Nói đi.”
Tôi nói. Cô ấy hét lên to đến mức tôi phải đưa điện thoại ra xa. Mọi người ở bến quay sang nhìn, tôi đỏ mặt mà vẫn cười.
Tôi quyết định nhận phỏng vấn. Trên bản giới thiệu, tôi tự viết tên mình là Lâm Trân — nghệ nhân phục chế gốm, xưởng Vân Trăng. Không ai cần thêm một chữ nào sau đó để biết tôi là ai.
13. Những gì một bức ảnh không kể
Bài phỏng vấn của tôi được thực hiện trong xưởng vào một sáng tháng Mười. Phóng viên là cô gái trẻ tên Duy Nhiên, đến với một máy ghi âm, một máy ảnh và đôi giày vải dính bùn vì vừa đi xem khu thư viện đang sửa. Cô hỏi tôi vì sao muốn giữ những vết rạn trên gạch cũ.
“Vì chúng kể một phần tuổi của thư viện,” tôi đáp. “Chúng tôi thay phần không còn an toàn. Nhưng nếu xóa sạch mọi dấu vết thời gian, người ta sẽ tưởng tòa nhà này vừa mọc lên hôm qua.”
Duy Nhiên ghi chép, rồi chỉ vào một bức ảnh mẹ tôi đứng trước lò nung.
“Cô học nghề từ mẹ?”
“Tôi học cách nhìn đất từ bà. Còn cách thất bại thì tự học khá nhiều.”
Cô ấy cười. Sau buổi phỏng vấn, tôi dẫn cô ra sân xem hàng gạch thử. Hoài Cảnh đang cùng thợ bàn cách đóng kiện vận chuyển. Duy Nhiên chụp một bức ảnh cả hai chúng tôi đứng hai bên chiếc bàn gỗ, ánh sáng xuyên qua những viên gạch men xanh. Tôi thấy ảnh đẹp, bảo cô ấy có thể dùng, miễn là phần chú thích ghi đủ tên những người làm.
Tạp chí đăng bài một tuần sau. Bài viết không nhắc Trần Thụy Thăng, nhưng một số người nhận ra tôi. Bình luận đầu tiên hỏi liệu có phải tôi là người phụ nữ trong vụ đám cưới hủy. Duy Nhiên trả lời rằng bài viết nói về dự án thư viện và xưởng gốm, mời người đọc tìm hiểu những người thợ trong bài. Cô ấy không xóa bình luận, cũng không dùng đời tư của tôi để kéo lượt xem.
Tôi nhắn cảm ơn. Duy Nhiên đáp: Bức ảnh được thích nhất là ảnh bà Ngô Vân đứng trước lò. Có một bác ở Nam Thành bình luận rằng bà từng dạy bác ấy nặn đất hồi nhỏ.
Tôi đọc bình luận ấy cho dì Mẫn nghe. Dì nói mẹ tôi chắc sẽ cằn nhằn vì mái tóc trong ảnh bù xù, rồi tự dưng ngồi xuống khóc.