SAU ĐÊM CẦU HÔN TRÊN BẾN CẢNG
Chương 23
Hoài Cảnh đọc lời cảm ơn đội thợ. Anh nhắc tên dì Mẫn, những người tháo gạch, người sửa mái và tôi. Anh không gọi tôi là “cô gái truyền cảm hứng” hay kể hoàn cảnh riêng để khách xúc động. Tôi đứng dưới hành lang nghe tên mình ở đúng công việc của mình, thấy cổ họng nghẹn lại.
Sau lễ, Trần Thụy Thăng đến. Anh đã báo trước rằng muốn xem công trình của tôi; tôi đồng ý, với điều kiện không đưa người chụp ảnh đi theo. Anh đứng trước dải gạch một hồi, rồi nói: “Mẹ em sẽ rất tự hào.”
“Bà ấy sẽ soi xem có viên nào lệch màu.”
Anh cười. Cái cười lần này không còn mang ý muốn kéo tôi quay lại ký ức chung. Anh chỉ gật đầu. Hoài Cảnh từ phía cuối hành lang đi tới, trên tay cầm sơ đồ cho khách tham quan. Ba người chúng tôi chào nhau. Sự ngượng ngập có thật, nhưng không ai cố giành lấy khoảng không quanh tôi.
Đến lúc ra về, Thụy Thăng nhìn An An đang ngủ trong tay dì Mẫn, hỏi tôi cuối tuần có thể đến thăm con theo lịch không. Tôi nói được. Anh cảm ơn, rồi bước qua cửa thư viện.
Hoài Cảnh chờ anh đi khuất mới hỏi: “Cô ổn chứ?”
“Tôi ổn.”
“Bờ sông vẫn chờ.”
Tôi bật cười. “Anh cũng biết giục đấy chứ.”
“Tôi chỉ đang xác nhận kế hoạch.”
Chúng tôi đi bộ dưới những tán cây ven sông. Tôi kể cho anh về đêm đầu tiên về Nam Thành, lúc đứng trong xưởng cũ mà không tin mình có thể bắt đầu lại. Anh kể ngày bà ngoại mất, anh đã tránh đi ngang thư viện suốt một năm vì sợ nhìn thấy chiếc cửa sổ trống. Mãi khi mái dột, anh mới bước vào. Anh bảo công việc sửa thư viện đã đưa anh trở lại với một nơi anh nghĩ mình không chịu nổi nữa.
“Tôi cũng thế,” tôi nói. “Tôi về xưởng vì không còn nơi nào khác để đi. Sau này mới biết mình vẫn muốn ở đây.”
Hoài Cảnh nắm tay tôi, rất nhẹ. Tôi nắm lại.
Không có lời thề sẽ chữa lành cho ai. Chúng tôi đi hết con đường, rồi quay về đón An An.
17. Mùa xuân không phải để quay đầu
Một năm sau, triển lãm Trăng Sau Mưa mở tại gian nhà cũ bên cạnh thư viện. Tôi đặt chiếc đĩa bị lấy rồi được trả về ở vị trí trung tâm, kèm một tấm thẻ nhỏ ghi năm làm và tên mẹ. Những bản vẽ đầu tiên của bà, các mẫu men hỏng của tôi, ảnh lò nung khi mở lại đều nằm ở các góc khác nhau. Tôi không treo câu chuyện kiện tụng lên tường. Người đến có thể nhìn đất, nước và lửa trước tiên.
Bạch Xuân Vi xuất hiện vào buổi chiều cuối tuần.
Cô ta mặc chiếc áo khoác xám, không có ai đi cùng. Tôi đang sửa lại nhãn cho một chiếc bát thì nghe cô hỏi: “Đây có phải chiếc đĩa năm ấy không?”
“Phải.”
Cô nhìn vết men đọng. “Trong ảnh quảng bá, tôi đã bảo họ che chỗ đó đi. Bộ phận thiết kế nói che sẽ mất tự nhiên.”
“Tôi vui vì họ không che.”
Cô quay sang tôi, ánh mắt không còn vẻ chắc thắng khi đến xưởng lần đầu. “Tôi từng nghĩ nếu mọi chuyện được sắp xếp ổn thỏa, sẽ chẳng ai bị tổn thương thêm. Tôi tự cho mình quyền quyết định cô nên im lặng, vì tôi không chịu nổi việc Thụy Thăng vẫn quan tâm cô.”
Tôi đặt bút xuống. “Cô đến để xin tôi tha thứ?”
“Không. Cô không nợ tôi việc đó. Tôi đến vì tập đoàn đã giải quyết xong các vấn đề còn lại với bên sản xuất. Họ sẽ gửi bản xác nhận cuối cho luật sư của cô. Tôi muốn báo trực tiếp.”
“Gia Nghi sẽ xem.”
Cô gật. Trước khi đi, cô nói nhỏ: “Tôi từng nói tác phẩm có thể không đủ nuôi con cô. Tôi đã sai.”
Tôi nhìn qua cửa. Hoài Cảnh đang bế An An chỉ cho con xem những con cá đất treo dưới hiên. Con bé vừa tập gọi những từ ngắn, thấy tôi nhìn thì giơ cả hai tay, reo một tiếng không rõ.
“Đúng,” tôi nói với Bạch Xuân Vi. “Cô sai.”
Cô không biện hộ. Lần đầu tiên tôi thấy cô bước ra mà không cố giữ hình ảnh hoàn hảo. Tôi không biết sau này cô sẽ sống thế nào. Chuyện ấy không còn là phần việc của tôi.
Buổi tối, Trần Thụy Thăng đến đón An An đi chơi hai tiếng như đã hẹn. Sau nhiều lần cùng nhau trao đổi, anh đã biết con thích quả chuối cắt nhỏ, sợ tiếng máy sấy và cứ nhìn đèn đường là gọi “sao”. Quan hệ giữa chúng tôi chưa bao giờ trở lại thân mật, nhưng đã đủ bình tĩnh để bàn chuyện con ốm, chuyện đổi giờ và những ngày lễ.
Anh thấy Hoài Cảnh đang giúp tôi hạ những bức ảnh khỏi móc treo. Lần đầu tiên anh hỏi thẳng: “Hai người ở bên nhau rồi?”
Tôi trả lời: “Ừ.”