SAU ĐÊM CẦU HÔN TRÊN BẾN CẢNG
Chương 24
Anh cúi xuống cài áo cho An An. Một lúc sau anh nói: “Anh mong anh ấy đối xử tốt với em.”
“Em cũng mong vậy.”
“Anh từng nghĩ chỉ cần anh quay lại, em sẽ vẫn chờ.”
Tôi không phủ nhận. “Em đã từng chờ.”
Anh gật đầu, đưa An An ra xe. Con bé ngoái lại vẫy tay, gọi “mẹ” thật to. Tôi vẫy lại. Hoài Cảnh đứng bên cạnh đỡ chồng khung ảnh, không chen vào khoảnh khắc của bố con họ. Khi chiếc xe đi khuất, anh hỏi tôi có muốn ăn tối trước khi dọn tiếp không.
“Muốn. Nhưng có thể ghé mua hoa nữa.”
“Cho ai?”
“Cho mẹ. Mai là ngày sinh của bà.”
Anh đặt khung ảnh xuống. “Tôi đi cùng.”
Tôi gật. Có những người bước vào đời mình rất nhẹ, vậy mà một ngày nhìn lại, họ đã biết cả đường tới tiệm hoa, vị trí bình cũ trong nhà và cách mở cổng để không đánh thức con.
18. Một câu hỏi dưới mái hiên
Mùa đông năm An An lên hai, xưởng Vân Trăng nhận đơn hàng đầu tiên từ một bảo tàng ngoài tỉnh. Tôi phải đi xem hiện vật trong ba ngày, lần đầu ngủ xa con lâu như thế. Trước khi đi, tôi viết lịch sinh hoạt của con ra giấy, dù dì Mẫn và Hoài Cảnh thuộc còn hơn tôi. An An giữ lấy quai vali, hỏi vì sao mẹ lại mang cả đôi giày có dính đất.
“Mẹ đi làm,” tôi giải thích. “Ba hôm nữa mẹ về.”
Con bé suy nghĩ rất lâu rồi hỏi: “Mẹ đi làm gốm đẹp?”
“Ừ. Mẹ đi xem đồ gốm cũ.”
“Mẹ mang trăng về nha.”
Tôi hứa, dù không biết tìm một vầng trăng ở đâu giữa chuyến công tác. Hoài Cảnh lái xe đưa tôi ra ga. Trên đường, anh không hỏi tôi có chắc muốn đi hay không, chỉ nhắc bản ghi chú hiện vật nằm trong túi ngoài của vali. Lúc tàu sắp chạy, anh bảo: “Ở nhà có chúng anh. Em cứ làm việc của em.”
Tôi nhìn anh qua cửa sổ, bất chợt thấy câu ấy quý đến nhường nào. Ngày trước, muốn đi công tác hai hôm tôi phải sắp trước bữa ăn cho Trần Thụy Thăng, lo anh không tìm thấy chiếc áo đã ủi. Bây giờ tôi có thể lên tàu với một cuốn sổ và đôi tay rảnh để nghĩ về công việc, vì những người tôi yêu cũng biết chăm sóc nhau.
Chuyến đi thành công. Tôi gặp được những người thợ giữ công thức men cũ, học thêm một cách gia cố miệng chum, và mua cho An An một chiếc đèn nhỏ hình mặt trăng. Ngày về, tôi vừa bước vào cổng đã nghe con chạy từ sân ra gọi mẹ. Dì Mẫn bảo ba ngày qua con ăn tốt, chỉ tối đầu tiên đòi ôm áo khoác của tôi ngủ. Hoài Cảnh đứng trong bếp, một tay bế cái nồi nóng bằng khăn, tay kia cầm chiếc muôi. Trông anh luống cuống, nhưng cơm đã chín.
Đêm đó, khi An An ngủ, tôi và anh ngồi dưới mái hiên. Gió mát lùa qua giàn hoa giấy. Hoài Cảnh đưa tôi một chiếc hộp gỗ nhỏ, giản dị như hộp đựng khuôn của mẹ. Bên trong là một chiếc nhẫn mảnh, không có viên đá lớn.
“Anh đã nghĩ nên hỏi vào lúc nào,” anh nói. “Rồi nhận ra lúc nào anh hỏi cũng sẽ có đơn hàng, có lịch của An An, có chuyện trong xưởng. Đời chúng ta vốn như thế.”
Tôi cầm chiếc nhẫn, nhìn anh. “Anh định cầu hôn khi đang rửa nồi?”
“Anh rửa xong rồi.”
Tôi bật cười. Anh cũng cười, nhưng giọng anh vẫn hơi run.
“Anh muốn cùng em sống những ngày bận rộn ấy. Nếu em cũng muốn, mình làm đám cưới. Nếu em cần thêm thời gian, anh vẫn ở đây, và ngày mai vẫn đưa An An đi xem cá ở thư viện.”
Tôi nhớ bầu trời phủ đầy drone năm xưa, một lời cầu hôn tôi không được nghe mà vẫn bị nó xé nát cuộc đời. Bây giờ chỉ có đèn hiên, chiếc nồi vừa rửa và người đàn ông đang hỏi tôi muốn gì. Tôi không cần một màn trình diễn để biết khoảnh khắc này là của mình.
“Em đồng ý,” tôi nói. “Nhưng mai anh phải đưa cả em đi xem cá.”
Hoài Cảnh thở ra, như vừa từ một độ cao rất lớn trở về mặt đất. Anh đeo nhẫn cho tôi, rồi cúi xuống cười: “Được. Cả nhà cùng đi.”
Sáng hôm sau, chúng tôi kể cho An An nghe. Con bé chưa hiểu đám cưới là gì, chỉ hỏi có bánh không. Dì Mẫn đứng sau con gật đầu đầy nghiêm túc: “Có bánh. Dì làm.” An An lập tức vỗ tay, tuyên bố cũng sẽ mời bố Thụy Thăng ăn bánh.
Tôi và Hoài Cảnh nhìn nhau. Tôi không hứa thay cho anh, cũng không bảo con quên người bố của mình vào ngày vui của mẹ. Tôi nói: “Mẹ sẽ nói với bố. Còn hôm đó bố có đến được không, bố sẽ trả lời con.”