Tháo Mũ Vì Nàng

Chương 3



Sau này còn phải sống.”

Ta đứng nhìn theo bóng hắn khuất ngoài ngõ, tự dưng thấy giận.

Giận vì không tìm ra được cái giá của hắn. Người không nói giá là người đáng sợ nhất, trong cung ai cũng bảo thế.

8

Sáng hôm sau ta xuống bếp sớm, nắm cơm cho khách gánh hàng ăn dọc đường.

Tay ta nắm cơm quen lắm. Trong cung, cung nữ tạp dịch ăn cơm đứng, cơm nắm sẵn từ đầu canh, giắt trong tay áo, vừa đi vừa ăn cho kịp việc. Mười năm, ta nắm không biết bao nhiêu nắm cơm cho mình, cho các tỷ cùng phòng.

Quế thẩm nhìn tay ta xoay ba vòng đã ra một nắm tròn chặt, mặt nắm hằn ba nếp xoáy, gật gù. “Tay này nuôi được người.”

9

Ngày mùng tám, có tiếng khóc đi ngang đầu ngõ.

Người của quan môi dắt theo ba cô gái, đi chào các mối. Cô đi cuối cùng bé quắt, ôm tay nải, vừa đi vừa khóc.

Ta nhận ra nó. A Nhu, cung nữ cục bên, xuất cung cùng đợt với ta, mười sáu tuổi, bị thải sớm vì cục giảm người. Hôm ở cổng Tây, nó cũng đứng đến giờ thân, không ai nhận.

Nó thấy ta, khựng lại, mếu máo gọi một tiếng tỷ tỷ.

Ta bước ra chắn giữa đường, hỏi người của quan môi. “Con bé này, chuộc ra được không?”

Bà ta nhìn ta từ đầu xuống chân. “Lệ có. Nhà nào đứng ra nhận nó về làm công, có người tử tế đứng tên bảo lãnh, nộp đủ tiền ghi sổ thì gạch tên. Mười lăm lượng.”

Ta hỏi sao đắt thế, nó bé quắt thế kia, ăn chưa đáng hai bát cơm một bữa.

“Tiền công đưa vào cung ngày trước, cộng tiền ghi sổ, cộng công dắt đi.” Bà ta lật sổ, đọc vanh vách từng khoản, như đọc giá thịt giá rau. “Thiếu một văn cũng không gạch tên được.”

Ta quay sang nhìn A Nhu. Nó nhìn ta, hai mắt đỏ mọng mà không dám mở miệng xin lấy một câu.

Nó cũng như ta, mười sáu tuổi đã học xong cái phép không dám xin ai cái gì.

Mười bảy lượng của ta còn nguyên trong tay nải. Mười năm quét sân, gói vừa một bàn tay.

Ta về lấy bạc, đếm đủ mười lăm lượng đặt lên. Quế thẩm chạy ra đứng tên, nhận nó về phụ hàng cơm, nuôi ăn nuôi ở.

Người của quan môi ghi sổ xong, hỏi câu cuối theo lệ, giọng đều đều như đọc kinh.

“A Nhu, ai nhận?”

Ta nghe câu ấy, sống lưng chợt nóng lên. Ba hôm trước, ở cổng Tây, cũng câu hỏi ấy, có người đã đáp thay ta.

“Ta nhận,” ta nói.

A Nhu oà khóc, quỳ sụp xuống. Ta kéo nó dậy, dúi cho nó nắm cơm còn ấm trong tay áo.

“Dạ… tỷ tỷ, tiền ấy sau này muội làm trả…”

“Không phải trả ta.” Ta lau mặt cho nó. “Sau này gặp đứa nào đứng khóc giữa đường như ngươi hôm nay, thì ngươi đứng ra. Thế là trả xong. Giờ ăn đi. Ăn xong rửa mặt, vào chào Quế thẩm.”

10

Chiều, hắn đứng ở đầu ngõ, chắc nghe Quế thẩm kể rồi.

“Mười lăm lượng,” hắn nói. “Tiền cưới của cô nương đấy.”

“Cưới xong nhịn ăn,” ta đáp. “Ngươi nuôi.”

Hắn nhìn ta một lúc, rồi bật cười. Lần đầu ta thấy hắn cười. Người lính đen sạm nghiêm như tượng ấy, cười lên trông trẻ hẳn.

“Được,” hắn nói. “Ta nuôi.”

Nói xong hắn đi thẳng, như sợ đứng thêm một lúc thì hỏng mất câu vừa rồi.

11

Ngày mùng chín, hàng cơm đón một ông khách quen mà ta chưa gặp.

Lão Cát, đội trưởng già của đội cổng Tây, tóc muối tiêu, ăn cơm nhà Quế thẩm từ thuở còn tóc đen. Đi theo ông có hai người lính trẻ, mặt còn non choẹt.

Ăn được nửa bữa, một người lính trẻ nhìn ta, huých bạn, cười cười. Lão Cát gõ đũa vào bát.

“Cười gì. Ăn.”

“Dạ đội trưởng,” người lính trẻ không nhịn được, “thì chuyện cả ty đang kể mà. Chuyện thằng ngu cổng Tây.”

Ta đang bưng canh ra, nghe bốn chữ ấy thì chậm chân lại.

“Kể thì kể cho tử tế.” Lão Cát chiêu một ngụm rượu, tự kể lấy, giọng nửa mắng nửa cưng. “Ty cấm quân có lệ, mỗi kỳ bốc thăm chia phiên gác. Cổng Tây là cổng nắng nhất, hè phơi lưng, đông hút gió, ai bốc trúng cũng kêu trời.”

Ông đặt chén xuống. “Vậy mà mười năm trước có thằng tân binh, đến kỳ bốc thăm lại đi gạ khắp ty, ai trúng cổng Tây nó xin đổi cho. Người ta tưởng nó gạ một lần. Nó gạ mười năm.”

“Mười năm, hai trăm bốn mươi phiên,” người lính trẻ tiếp lời, cười lăn. “Cả ty gọi nó là thằng ngu cổng Tây. Có đứa bảo nó nợ cổng ấy một mạng. Có đứa bảo nó thờ Thổ Địa cổng Tây.”

“Thế rốt cuộc vì cái gì?” người lính kia hỏi.

“Ai biết.” Lão Cát lắc đầu. “Hỏi thì nó chỉ bảo, quen nắng rồi. Người đâu mà lì như đá tảng.”

“Thế trên ty không cấm à?” người lính trẻ kia hỏi.

“Cấm gì. Sổ phiên hợp lệ, hai bên thuận đổi, ty thu đủ người gác.” Lão Cát nhún vai. “Với lại có thằng ngu chịu ăn nắng thay, cả ty được nhờ, ai dại gì cấm.”

“Hai trăm bốn mươi phiên thì đứng đến bao nhiêu canh giờ hả đội trưởng?”

“Đếm làm gì. Nó đứng, ty được nhờ, thế là xong.” Lão Cát chiêu nốt chén rượu. “Đời lính chỉ có hai thứ đếm được, sổ phiên với vết sẹo. Thứ nào cũng chẳng ai đi đếm hộ ai.”

Cả bàn cười ồ. Quế thẩm đứng trong bếp, cười theo, mà mắt lại nhìn ta.

Ta đặt bát canh xuống bàn, tay khẽ run, canh sánh ra một giọt.

Thằng ngu cổng Tây của cả ty, tối qua vừa chẻ hết củi nhà này.

12

Đêm ấy ta nằm đếm.

Mười năm, ta ra vào cổng Tây bao nhiêu lần. Mỗi tháng hai kỳ, mùng một và rằm, theo bà quản sự ra phố mua đồ khô. Mười năm, hai trăm bốn mươi lần đi qua cái cổng nắng nhất hoàng thành, đầu cúi, mắt nhìn xuống, chỉ thấy bóng cột và bóng giáp trụ đổ trên đá.

Sáng ra, ta hỏi Quế thẩm, giọng cố cho thật nhẹ.

“Thẩm. Phiên gác của Vệ Cẩn, rơi vào ngày nào?”

“Mùng một với rằm là chắc chắn có nó ở cổng.” Bà đáp không cần nghĩ. “Còn thì tuỳ kỳ. Mười năm nay lệ ấy chưa đổi.”

Bà rửa tay vào vại, quay lại nhìn ta. “Có lần già này bảo nó, mùng một đầu tháng người ta đi lễ, ngươi đi phơi nắng, nó chỉ cười.”

Dao trong tay ta dừng trên thớt.

Mùng một và rằm. Ngày cung nữ ra phố.

Ta lấy que củi vạch xuống nền bếp, tính đi tính lại.

Chương trước Chương tiếp
Loading...