Tháo Mũ Vì Nàng
Chương 4
Mỗi tháng hai kỳ, mỗi năm hai mươi bốn kỳ, mười năm. Hai trăm bốn mươi.
Đúng cái con số người lính trẻ cười lăn hôm qua.
Ta ngồi thụp xuống cạnh bếp, mắt vẫn để trên mấy vạch củi ấy, cố lôi trong đầu ra một ngày nào có mặt hắn.
Không có mặt nào cả. Chỉ có một mảnh rời ra, không đầu không đuôi: một mùng một tháng chạp nào đó, trời đổ mưa đá giữa đường về, hạt to bằng đầu ngón tay, cả đoàn được cho đứng nép dưới vọng gác cổng Tây chờ tạnh.
Ta nhớ tiếng đá gõ trên mái vọng gác. Nhớ mùi bao gạo ướt. Nhớ bà quản sự đếm đủ người rồi mới cho đi tiếp.
Ai cho đứng, ta không nhớ. Ngày ấy ta không ngẩng lên.
Quế thẩm bưng rổ rau ra sân, đi ngang, nhìn xuống mấy vạch củi dưới chân ta.
“Đếm gì mà đếm từ đêm qua đến giờ thế con?”
“Đếm xem một người đứng ngoài nắng bao nhiêu lâu thì hết một cái ơn,” ta đáp.
Bà không hỏi thêm, chỉ đặt rổ rau xuống cạnh ta, ngồi luôn xuống bậc cửa.
“Con đếm ra bao nhiêu cũng thế thôi,” bà nói. “Cái loại người ấy nó không đếm. Nó chỉ đứng.”
Ta không tin vào cái điều vừa hiện ra trong đầu. Nhưng đếm cách nào nó cũng chỉ ra một đáp số ấy.
13
Chiều hôm ấy ta ra cổng trại, đứng chờ hắn tan phiên.
Hắn thấy ta thì khựng lại nửa bước, rồi đi tới. Ta không vòng vo.
“Thằng ngu cổng Tây. Là ngươi.”
Hắn không chối, cũng không gật. Chỉ đứng đó, mũ cắp trong tay.
“Mười năm đổi phiên lấy cái cổng nắng nhất. Phiên nào cũng trùng mùng một với rằm. Trùng ngày cung nữ ra phố mua đồ.” Ta nhìn thẳng vào mắt hắn, hỏi câu cuối cùng. “Vì ta?”
Hắn im lặng rất lâu. Lâu đến nỗi ta tưởng hắn sẽ không đáp. Rồi hắn nói, chậm, như lôi từng chữ từ một chỗ cất rất sâu.
“Mười năm trước ta mười sáu tuổi, vào cấm quân được nửa năm, phạm lỗi, bị phạt quỳ ba ngày ngoài cổng Tây. Tháng sáu, đá nóng như rang. Quỳ đến ngày thứ hai thì ta xỉu đi một lần, tỉnh dậy chỉ nghĩ được một điều, chắc chết ở đây.”
Hắn nhìn xuống hai bàn tay mình.
“Ngày thứ hai ấy là rằm. Chiều rằm, có một đoàn cung nữ theo bà quản sự mua đồ về, đi qua chỗ ta quỳ. Cả đoàn đi thẳng, đầu cúi, đúng lệ. Riêng một cô bé tụt lại nửa bước, dúi vào tay ta một nắm cơm nếp còn ấm, nói một câu, rồi chạy theo đoàn.”
“Câu gì?” ta hỏi, cổ họng khô lại.
“Chịu thêm một canh giờ nữa là hết phạt.”
Hắn nói câu ấy rất chậm, như sợ đọc sai một chữ thì mất thiêng. Mười năm rồi mà từng chữ nghe còn nguyên hơi ấm của nắm cơm.
Gió chiều thổi dọc tường trại, lạnh sống lưng.
“Nàng thuộc lệ cung chứ.” Hắn nói tiếp. “Cung nữ mở miệng với lính gác thì cung nữ chịu tội trước, lính chịu tội sau. Cô bé ấy mười ba tuổi. Nó không biết sợ, hay biết mà vẫn nói, ta đến giờ vẫn không đoán ra. Chỉ biết là nó nói trước.”
“Sao ngươi biết là cung nữ nào?” ta hỏi. “Cung nữ ra phố, ai chẳng cúi đầu, ai chẳng giống ai.”
“Hôm ấy thì không biết. Không thấy mặt. Chỉ kịp thấy một góc cằm với hai bàn tay.”
Hắn ngẩng lên.
“Nhưng nắm cơm ấy xoay ba vòng, mặt nắm hằn ba nếp xoáy, tròn mà không cứng. Cung nữ ra phố ăn cơm đứng, cơm nắm giắt sẵn trong tay áo, ra khỏi cổng là cầm lấy ăn. Ta đứng gác. Ta không được phép nhìn mặt ai, nhưng nhìn tay thì không ai cấm.”
“Ba năm đầu ta nhầm không biết bao nhiêu lượt. Cứ thấy ba nếp xoáy là ta chắc. Sau mới vỡ ra vì sao nhầm mãi: nắm cơm ấy nàng nắm cho cả phòng. Tay nàng một, mà nắm cơm của nàng đi trong tay bốn năm người.”
Ta nghe đến đấy thì thở ra một hơi rất khẽ. Bốn năm người ấy, ta gọi được tên từng người, kể được cả tật ngủ ngáy của từng người.
“Vậy thì đến chết ngươi cũng chỉ biết một cái tay.” Ta nói. “Muốn ra được cái tên thì phải có sổ. Mà sổ ra vào cổng thì lính gác giữ, chứ ai vào đấy.”
Hắn nhìn ta, khoé mắt động một cái, như người vừa bị đoán trúng nước cờ.
“Nàng tính nhanh hơn ta tưởng.”
“Ta đong gạo đếm muối cho cả cục mười năm. Ngươi kể tiếp đi.”
“Sổ ghi cả đoàn, không ghi ai nắm cơm cho ai, nên có sổ cũng chưa ra được ai.” Hắn nói. “Năm thứ tư, có một rằm, bà quản sự gọi giật một cái tên ngay dưới chân cổng, sai người ấy quay lại xách hộ một bao gạo, vì cả đoàn thì người ấy xách nặng nhất. Ta nghe được ba chữ. Về ta lật sổ đối lại, mới ráp được cái tay với cái tên.”
Ta biết ba chữ ấy là gì rồi. Ta vẫn đứng đó, chờ nghe hắn đọc.
“Doãn Chiêu,” hắn nói.
Hắn nói tên ta như đọc một dòng trong sổ trực, không nhấn, không cao giọng. Vậy mà ta nghe ra cái công của bốn năm đứng nắng nằm gọn trong ba chữ ấy.
“Từ hôm ấy ta biết tên. Biết tên rồi thì cũng chỉ để đứng đó.”
Hắn nói nốt, giọng chùng hẳn xuống.
“Ta ăn nắm cơm ấy, quỳ nốt canh giờ cuối. Từ hôm đó ta tự nhủ, người ta cho mình một canh giờ, mình nợ người ta một canh giờ. Nợ một canh giờ, ta canh mười năm.”
14
Ta đứng như trời sập ở trong đầu mà ngoài mặt vẫn phải đứng cho vững.
Bởi vì ta không nhớ.
Ta lục tung mười năm trong đầu ta. Nắng cổng Tây, đá bỏng chân, những buổi theo đoàn ra phố. Ta nhớ giá muối từng năm, nhớ mặt bà bán đồ khô đanh đá, nhớ cả con mèo vàng hay nằm trên bậc hiệu thuốc.
Ta nhớ cả lần bị mưa ướt một gánh đồ, về chịu phạt quỳ nửa canh giờ. Ta nhớ trận mưa đá tháng chạp, nhớ tiếng đá gõ trên mái vọng gác, nhớ mùi bao gạo ướt, nhớ bà quản sự đếm đủ người mới cho đi tiếp.
Vậy mà một người lính quỳ giữa nắng tháng sáu, một nắm cơm ta nắm bằng chính tay ta, một câu nói từ chính miệng ta, ta lục khắp mười năm không ra một mảnh. Không có. Trống trơn.
Ta nhớ được đến từng hạt mưa đá. Không nhớ nổi người cho ta đứng dưới mái.
Việc lớn nhất đời một người, hoá ra bé đến nỗi chính người làm cũng không giữ lại nổi.